|
Diễn đàn >> Kiến Thức YHCT >> Tiền ngôn Kim quỹ yếu lược phương luận
<< Đăng Chủ Đề Mới >>
Tiền ngôn Kim quỹ yếu lược phương luận - posted by Trường Xuân (Hội Viên) on December , 28 2025 | Tiền ngôn Kim quỹ yếu lược phương luận
Kim quỹ yếu lược phương luận
Phần mở đầu
Trương Trọng Cảnh đă viết “Thương Hản Tạp Bệnh Luận” gồm mười sáu tập. Nhưng hiện tại, chỉ có mười tập “Thương Hàn Luận” được truyền lại, cuốn sách về tạp bệnh của ông vẫn chưa được t́m thấy, một hoặc hai trong số đó đă được đề cập đến trong nhiều đơn thuốc khác nhau. Vào một ngày, Vương Chu, một học giả hàn lâm, ở trong một gian hàng, ông t́m thấy ba tập {Kim Quỹ Ngọc Hàm Yếu Lược Phương} của Trọng Cảnh đă bị mối mọt: Phần thượng thảo luận về chẩn đoán bệnh thương hàn, phần trung thảo luận tạp bệnh, phần dưới ghi những bài thuốc và cách chữa bệnh cho phụ nữ, sách chỉ được lưu truyền trong phạm vi hạn hẹp của một số gia tộc. Với những cặp đôi phương chứng phù hợp, khi thực hành với bệnh nhân th́ thu được hiệu quả như thần. Tuy nhiên hoặc chỉ có chứng mà không có phương, hoặc chỉ có phương mà không có chứng, th́ việc cứu tật trị bệnh vẫn chưa được hoàn bị.
Triều đ́nh ra lệnh cho các quan lại sửa chữa sách y, quần thần trước tiên chỉnh sửa {Thương Hàn Luận}, sau đó sửa lại {Kim quỹ ngọc hàm kinh}, và bây giờ lại sửa thành cuốn sách này, vẫn dùng phương pháp t́m kiếm phương dược theo sau hội chứng, để khi cần có thể dễ dàng kiểm tra và sử dụng. Lại cũng tiến hành thu thập các phương dược rải rác ở nhiều trường phái khác nhau và gắn chúng vào cuối mỗi chương để mở rộng phương pháp điều trị bệnh. Bởi v́ các chuyên luận về bệnh thương hàn có nhiều chữ viết tắt, nên đă được cắt bỏ từ phần tạp bệnh đến những điều cấm kỵ trong chế độ ăn uống. Tất cả 25 bài viết được kết hợp với 262 bài thuốc ngoại trừ các bài trùng lặp, và được biên soạn thành ba tập: Thượng, trung và hạ. vẫn được gọi là {Kim Quỹ Phương Luận} Nhiều người thường đọc {Nguỵ Chí Hoa Đà truyện} và cho rằng cuốn sách có thể cứu sống người bệnh, nhưng cũng nhiều người cho rằng phương pháp điều trị bệnh của Hoa Đà thường rất kỳ quái, không hợp với kinh thư của thánh nhân. Quần thần cho rằng nói đến tác dụng cứu người tất phải nói đến y thư của Trọng Cảnh. Thật tuyệt vời ! Thánh luật Thần Nông trong ngày tốt lành. Hoàng đế tôn kính đă kế thừa uy quyền to lớn , nuôi dưỡng trăm họ , ban hành phương thư, cứu trợ tật khổ , khiến hoà khí tràn đầy, vạn vật sẽ măi măi ḥa hợp.
Lời nói đầu
Cuốn sách 《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận》được viết bởi Trương Trọng Cảnh, một nhà y học nổi tiếng thời Đông Hán, đây là cuốn sách biện chứng luận trị tạp bệnh sớm nhất của nước ta, nhưng y thư là văn bản cổ xưa nên không dễ giảng giải, khó để có thể nắm bắt được toàn cảnh và lĩnh hội được tinh tuư của y thư nếu không kèm theo lời giải thích. V́ mục đích này, khi biên soạn 《Kim Quỹ Yếu Lược Tường Giải》chúng tôi đă tham khảo chú thích của các nhà b́nh luận có liên quan, đồng thời kết hợp kinh nghiệm giảng dạy và lâm sàng của chính ḿnh để đưa ra phân tích và mô tả sâu hơn về bản gốc. Khi giải nghĩa văn bản gốc, chúng tôi cố gắng giải thích nguyên nhân, cơ chế và đặc điểm hội chứng của bệnh dựa theo quy luật khách quan và cùng với quy luật truyền biến của bệnh. Tuân theo phương pháp tư duy của Trương Trọng Cảnh về biện chứng luận trị, để giải thích về quy luật biện chứng, lập trị pháp và xử phương dụng dược của《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận》. Để khám phá sâu hơn tư tưởng học thuật của Trương sư, những tư tưởng chiến lược và ư nghĩa của cuốn sách được chỉ ra khi diễn giải văn bản gốc. Về một số điều văn, phụ phương là nghi vấn của người xưa, qua t́m hiểu và nghiên cứu văn bản, chúng tôi đă đưa ra một số giải thích và chỉnh sửa cần thiết để cùng độc giả tham khảo.
Cuốn sách gốc 《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận》có tổng cộng 25 chương, chương đầu tiên là 《Tạng phủ kinh lạc tiên hậu bệnh mạch chứng》Tŕnh tự bệnh mạch chứng của các cơ quan nội tạng và kinh mạch, tương đương với phần giới thiệu chung của toàn bộ cuốn sách; Chương thứ hai
《Kính Thấp Yết bệnh mạch chứng》đến chương thứ mười bảy 《Ẩu thổ Uế Hạ Lợi Bệnh Mạch Chứng Trị》thảo luận rộng răi về các khía cạnh khác nhau của nội khoa.
Chương 18 《Sang Ung Tràng Ung Tẩm Dâm Bệnh Mạch Chứng Tính Trị》thảo luận về các bệnh ngoại khoa; Chương 19 《Phu Quyết Thủ Chỉ Tư thũng chuyển cân Âm cô sán Vưu Trùng Bệnh Mạch Chứng Trị》thảo luận về một số bệnh và hội chứng rất khó để tóm tắt. Chương 20 đến 22 thảo luận về bệnh phụ khoa, có tổng cộng 396 điều văn trong 22 bài trên liên quan đến bệnh tật ở khoa này. Ngoài phần giải thích c̣n kèm theo chú thích và hồ sơ bệnh án tương ứng. Ba bài viết cuối cùng được thảo luận là《Tạp Bệnh Phương》 và 《Cầm Thú Ngư Trùng Cấm Kỵ Tính Trị》, 《Quả Thực Thái Cốc Cấm Kỵ Tính Trị》
Tuy nhiên, do hạn chế của điều kiện lịch sử, nguyên tác của Trọng Cảnh không tránh khỏi pha trộn một số mê tín phong kiến nhất định, đặc biệt là ở ba chương cuối, nhiều chương vẫn cần phải bàn luận. Xét thấy nó vẫn có giá trị tham khảo nhất định cho việc nghiên cứu vệ sinh thực phẩm cũng như công tác pḥng, chống ngộ độc thực phẩm ở nước ta xưa nên chưa hề rút gọn, mong rằng độc giả sẽ tuân theo những nguyên tắc “Cổ vi kim dụng” (古为今用) quá khứ phục vụ hiện tại và “Thôi trần xuất tân” (推陈出新) Bỏ cặn bă, giữ tinh hoa phát triển theo hướng mới.
Chính sách là loại bỏ những điều thô sơ và chọn lọc những điều thiết yếu, đồng thời đọc một cách phân tích và phê phán.
Do tŕnh độ c̣n hạn chế nên cuốn sách này chắc chắn c̣n nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ư và sửa chữa của độc giả.
Biên tập viên
1983 tại Đại học Y học cổ truyền Trung Quốc Bắc Kinh
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch | | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 18:44:38 | 01 TẠNG PHỦ KINH LẠC TIÊN HẬU BỆNH MẠCH CHỨNG
Chương I Hội chứng bệnh mạch nối tiếp nhau của tạng phủ kinh lạc
Khái thuyết
Chương này là phần giới thiệu chung về toàn bộ cuốn sách, khá bao quát và bao gồm một số thảo luận mang tính nguyên tắc về nguyên nhân, sinh bệnh học, chẩn đoán, điều trị, pḥng ngừa bệnh tật cũng như tác động của khí hậu theo mùa lên các cơ quan của con người. Có mười bảy điều trong chương, trong đó điều 1, 2, 7, 8, 10 bàn về nguyên nhân phát sinh bệnh, quy luật truyền biến, ảnh hưởng của khí hậu đối với cơ thể con người từ góc độ chỉnh thể, đề xuất quan điểm “Bất trị dĩ bệnh trị vị bệnh” (不治已病治未病) không chữa bệnh hiện có mà chữa bệnh trước khi nó xảy ra. và nhấn mạnh ư tưởng rằng việc pḥng bệnh quan trọng hơn chữa bệnh. Các điều từ 3 đến 6 mô tả các phương pháp kiểm tra và chẩn đoán khác nhau trong chẩn đoán bệnh. Các Điều 9, 11 và 12 mô tả phương pháp chẩn đoán của mạch chẩn trong việc xác định tính chất, vị trí và kết cục của các loại bệnh.
Điều 13 mô tả phương pháp phân loại bệnh. Các điều từ 14 đến 17 làm rơ các nguyên tắc và phương pháp điều trị chung của các loại bệnh.
Bài viết này tập trung giải thích các hội chứng khác nhau do sự thay đổi bệnh lư của các cơ quan và kinh mạch gây ra, đồng thời gợi ư rằng cần phân tích sự khác biệt của hội chứng dựa trên cơ chế bệnh sinh của tạng phủ kinh lạc, từ đó xác định các quy tắc điều trị. Dựa trên toàn bộ quá tŕnh truyền biến của bệnh, xác định tư tưởng chiến lược điều trị toàn diện và xác định phương pháp điều trị cụ thể dựa trên vị trí và tính chất của bệnh. Những nội dung trên là tinh thần chủ yếu của cuốn sách.
1/ 问曰:上工治未病,何也?师曰:夫治未病者,见肝之病,知肝传脾,当先 实脾,四季脾王不受邪,即勿补之。中工不晓相传,见肝之病,不解实脾,惟治肝也。夫肝之病,补用酸,助用焦苦,益用甘味之药调之。酸入肝,焦苦入心,甘 入脾。脾能伤肾,肾气微弱,则水不行;水不行,则心火气盛则伤肺;肺被伤, 则金气不行;金气不行,则肝气盛,则肝自愈。此治肝补脾之要妙也。肝虚则用 此法,实则不在用之。经曰:虚虚实实,补不足,损有余。是其义也。余藏準此。
| 1. Hỏi: Tại sao Thượng Công phải chữa người chưa có bệnh, Thầy nói: Ta chữa người chưa có bệnh, là khi thấy can (gan) có bệnh, biết bệnh của can (gan) sẽ truyền đến tỳ (bệnh truyền theo đường tương khắc, (can mộc khắc tỳ thổ) (tụy, lá lách) và việc cần làm đầu tiên là tăng cường sức mạnh cho tỳ, gọi là “Thực tỳ” (实脾) tạng tỳ vượng vào 18 ngày cuối của 4 mùa (Trưởng hạ) nên tạng tỳ không thụ tà, v́ thế trong thời gian này không cần dùng thuốc bổ cho tạng tỳ. Những thày thuốc tŕnh độ b́nh thường (trung công) không biết điều này, khi nh́n thấy bệnh gan, họ cũng không hiểu phải bổ tỳ mà chỉ chữa bệnh gan. Đối với các bệnh về gan, thường dùng vị thuốc chua để bồi bổ, hỗ trợ th́ dùng vị khét đắng (tiêu khổ), bổ ích th́ dùng vị ngọt để điều ḥa.
Tỳ có thể lấn át thận (Thổ khắc thuỷ), thận khí yếu th́ thủy hoạt động kém, thủy hoạt động kém th́ tâm hỏa mạnh, hoả mạnh ảnh hưởng phế kim, khi phế bị hoả lấn át mà suy yếu th́ kim khí sẽ không lấn át được can mộc, can mộc không bị lấn át th́ mạnh lên và tự lành. Đây là một cách tuyệt vời để điều trị bệnh gan và nuôi dưỡng tỳ. Tạng can hư yếu th́ dùng phép này, nếu can thực th́ không dùng. Kinh điển có câu: Hư hư thực thực, bổ bất túc, tổn hữu dư (虚虚实实,补不足,损有余)Thêm chỗ không đủ, bớt chỗ dư thừa. Chính là ư nghĩa của câu. Các tạng khác cũng theo chuẩn mực như vậy.
【Giải thích từ】
Thượng công: Dùng để chỉ những thày thuốc có tay nghề cao. Trung công: Dùng để chỉ những thày thuốc b́nh thường.
Trị vị bệnh: Điều trị các cơ quan chưa bị bệnh, thí dụ như thấy gan có bệnh th́ phải thực tỳ trước.
Thực tỳ: Bổ tỳ.
Tỳ vương bốn mùa, vương đồng nghĩa với vượng. Tỳ vương bốn mùa ám chỉ mười tám ngày cuối cùng của mỗi mùa vào các mùa xuân, hạ, thu, đông, là thời gian tỳ thổ mạnh, tỳ khí vượng th́ không hư yếu
Và như vậy trước tiên cần bổ tỳ.
Thương: Ở đây có ư nghĩa là chế phục.
【Giải thích】
Bài viết này thảo luận về các quy tắc điều trị bệnh từ quan niệm chỉnh thể. Giữa ngũ tạng lục phủ trong cơ thể con người có mối quan hệ sinh khắc chế hoá, lúc b́nh thường th́ hỗ trợ nhau, khi phát bệnh th́ chúng kiềm chế nhau. Nếu có bệnh ở một tạng nào đó th́ không chỉ giới hạn ở tạng đó mà c̣n có thể ảnh hưởng đến bệnh ở các tạng phủ khác và có những quy luật truyền biến nhất định. V́ lư do này, khi chữa bệnh, chúng ta không chỉ nh́n vào tạng phủ đă bị bệnh mà c̣n phải chú ư đến tạng phủ chưa bị bệnh. Vậy làm thế nào để nhận biết các cơ quan không bị bệnh để ngăn chặn sự lây lan của bệnh tật? Trương Trọng Cảnh đă giải quyết vấn đề này bằng cách đề xuất các quy tắc truyền biến bệnh tật ở các phủ tạng và kinh mạch. Nếu thấy bệnh của gan th́ biết bệnh gan rất dễ lây truyền sang tỳ. V́ vậy, khi chữa bệnh, cần củng cố tạng tỳ trước, tạng tỳ chưa bị bệnh nên được điều trị trước để ngăn ngừa bệnh truyền biến đến tạng tỳ, đây là cách tốt nhất để xem xét mức độ cao minh của thày thuốc. Tuy nhiên, nếu tạng tỳ không bị ảnh hưởng trong thời gian bốn mùa thịnh vượng th́ không nên sử dụng phương pháp bổ tỳ. Một thuyết khác: Thường là bốn lần trong một năm mà khi khí tạng tỳ đầy đủ và không bị bệnh tà xâm phạm th́ không cần câu nệ vào lư thuyết bổ tỳ để trị bệnh gan, c̣n với những thày thuốc b́nh thường, họ không hiểu được lư thuyết trị bệnh gan bằng phương pháp bổ tỳ, mà khi thấy gan bị bệnh, chỉ biết một việc là điều trị bệnh gan và không hiểu ư nghĩa của việc bồi bổ tạng tỳ, và như vậy sẽ không ngăn chặn được đường truyền biến của bệnh. Chỉ khi biết được quy luật lây truyền bệnh tật th́ chúng ta mới có được ch́a khóa để điều trị bệnh trước khi nó xảy ra và đạt được hiệu quả chữa bệnh như ư.
Trên đây là nguyên tắc điều trị hội chứng can thực sau khi can chế phục tỳ. Hội chứng can hư có thể chia thành ba phương pháp điều trị, tức là đối với bệnh can hư (thiếu) th́ nên bổ sung bằng vị chua, dùng vị khét đắng để trợ giúp, dùng thuốc có vị ngọt để điều hoà. Vị chua đi vào can, có tác dụng bồi bổ can, đó là bước số 1. Vị khét đắng nhập vào tim, khiến tâm khí mạnh mẽ, giúp ích cho gan, đó là thứ hai. Công dụng ích lợi của vị thuốc vị ngọt có tác dụng bổ tỳ và kiềm chế (khắc) thận, thận thủy yếu th́ tâm hỏa mạnh, tâm hỏa mạnh th́ phế khí cũng yếu (Hoả khắc kim), từ đó can mộc sẽ không bị phế kim khống chế, can sẽ khỏe mạnh và tự lành, đó là thứ ba. Phương pháp điều trị gan và bổ tỳ này hàm chứa bên trong một triết lư tinh tế. Tóm lại: Dùng vị chua (toan thuộc mộc) để bồi bổ cho can hư yếu, đây là phương pháp điều trị trực tiếp vào can c̣n gọi là phép chính trị (正治法), hỗ trợ dùng vị khét đắng (tiêu khổ) để bổ tâm khí, “Tử linh năng mẫu thực” (子能令母实) Con có thể bổ cho mẹ (can mộc sinh tâm hoả). Đây là phương pháp chữa bệnh cách nhất; Thuốc có vị ngọt nhập vào tỳ có lợi ích cho tạng tỳ nên thắng thận (Tỳ thổ khắc thận thuỷ), thuỷ suy khiến hỏa vượng chế ước kim, phế kim bị suy yếu không chế ước được can mộc khiến mộc vượng và tự lành và đây là phương pháp điều trị cách nhị. Trong tất cả các phương pháp điều trị lâm sàng, lấy đây làm ví dụ, ba phương pháp điều trị trên phải được làm rơ để nâng cao tŕnh độ điều trị bệnh.
Cuối cùng, tác giả trích dẫn một đoạn văn trong 《Nội kinh》, và chỉ ra rằng nếu hội chứng hư thực không được điều trị theo cách này th́ khó tránh được là hội chứng hư nhược lại được điều trị bằng tả pháp, và thực chứng lại được điều trị bằng các phương pháp bồi bổ, điều này trái ngược với nguyên tắc điều trị. Phương pháp điều trị đúng đắn cho cả hội chứng hư (thiếu) và thực (thừa) là”Hư giả bổ chi, thực giả tả chi” (虚者补之,实者泻之), bổ cho phần hư (thiếu) và bỏ bớt thực (phần thừa), “Bổ kỳ bất túc, tổn kỳ hữu dư” (补其不足,损其有余) bù đắp phần thiếu và bỏ phần thừa. Điều này đúng với tất cả các bệnh về can, tâm, phế, tỳ, thận ( gan, tim, phổi, lá lách, thận) v.v., nên người ta nói “Dư tạng chuẩn thử” (余脏准此) Các cơ quan nội tạng c̣n lại cũng phải theo chuẩn mực như vậy.
[Ghi chú tùy chọn]
《Kim quỹ yếu lược phương luận bản nghĩa》: “Bệnh ở tạng can tất truyền đến tạng tỳ, người thày thuốc giỏi trước tiên phải bổ tạng tỳ, khiến tạng can không thể truyền (bệnh) và có thể khỏi bệnh. Tuy nhiên t́nh trạng suy vượng của các tạng thay đổi theo mùa. Trong 4 mùa, mỗi mùa thổ vượng 18 ngày, tương ứng với 72 ngày mỗi năm, nếu đúng thời gian thích hợp th́ tạng tỳ vượng thịnh vả không thụ bệnh tà, là không cần bồi bổ th́ can cũng không thể tuỳ tiện lấn át. Nếu bổ tỳ quá, lại phạm vào điều cấm “Thực thực chi giới” (实实之戒) thêm vào chỗ dư thừa. Nhưng đạo lư biến hoá thịnh suy này chỉ có thày thuốc cao minh mới hiểu, thày thuốc b́nh thường không hiểu được ư nghĩa tương truyền, gặp bệnh của tạng can nhưng không hiểu phải bổ tỳ (thực tỳ), chỉ biết trị bệnh tạng can thôi. Mà bệnh ở tạng can phần nhiều là hư chứng, hư chứng th́ dùng phép bổ, bổ th́ dùng vị chua, là điều trị trực tiếp (chính trị). Nếu để hỗ trợ thế lực cho tạng con, cũng là hỗ trợ thế lực cho tạng mẹ “Tử năng linh mẫu thực”. Vị khét đắng nhập vào tâm, trợ tâm tất dùng vị thuốc khét đắng, đó cũng là điều trị bệnh. Càng tăng thêm thế lực chiến thắng của ḿnh, tức là làm suy yếu thế lực của bệnh.Vị ngọt vào tạng tỳ, bổ ích tạng tỳ tất dùng vị ngọt để điều tế (điều tiết cho thích nghi). Đó cũng là phản trị, nếu hiểu được ba phương pháp điều trị mà dự kiến được bệnh th́ tại sao không hết bệnh. Sở dĩ như vậy v́ tỳ có thể chế ước thận, thận khí nhỏ yếu nên thuỷ không vận hành, mà thuỷ là thuỷ khí âm hàn, đủ để tiến vào quyết âm để chế ước thiếu dương, thuỷ không vận hành nên tâm hoả đầy đủ, không tiêu hao khí của tạng mẹ là tạng can nên can tự an, v́ thế khi tâm hoả đủ th́ can dương sướng đạt (thông suốt), mộc gặp hoả tất cũng vui sướng tươi tốt. Lại thêm phế kim sợ hoả không dám tạo ảnh hưởng đến tạng can, nên dù viết là thương (chế ước), nhưng thực là cũng không chế ước phế kim. Chỉ khiến táo khí phế kim không phạt can mộc, mà phế kim thường ấm áp điều hoà, kim khí không quá mạnh mẽ để lấn át can mộc nên can mộc tươi tốt thoải mái mà tự lành
Với phương pháp điều trị bệnh gan, sau rất nhiều trăn trở băn khoăn về nguyên lư của học thuyết ngũ hành, cần phải thật tỉ mỉ cẩn thận như vậy th́ mới có thể nâng cao được công dụng của nó trong việc điều trị bệnh gan, điều trị gan với điều kỳ diệu tất yếu là phải bổ tỳ, không phải là bậc cao minh th́ không dễ ǵ hiểu được. Bệnh gan do hư tổn th́ dùng phép này, mà thực chứng của gan th́ không dùng. Mà thực tà dễ trừ khứ, bệnh do hư tổn th́ khó điều hoà, biết phép bổ hư th́ có thể suy ra phép tả thực, thày c̣n trích dẫn kinh điển để tổng kết lại, kinh viết hư hư thực thực, “Bổ bất túc tổn hữu dư” (补不足损有余) là thêm chỗ thiếu, bớt chỗ thừa. V́ hư mà lại công phạt là phạm vào “Hư hư chi cấm” (虚虚之禁) cấm làm thiếu thêm chỗ thiếu. Thực chứng mà dùng phép bổ là phạm vào “Thực thực chi cấm” (实实之禁) là thêm vào chỗ thừa. Hư tổn thiếu sót th́ bồi bổ, Thực mà thừa th́ bỏ bớt, là hợp với ư nghĩa của lời kinh. Người học so sánh giữa tiêu bản chính tà mà phân biệt hư thực để bổ tổn (bồi bổ và bỏ bớt) cho thích hợp, là thể hiện theo ư chỉ sáng suốt của người thày, các tạng c̣n lại cũng theo chuẩn mực như vậy, mở một cạnh th́ t́m ra ba cạnh (có ư nghĩa tương tự như câu học một biết mười) và c̣n một ư về cách dạy (thày dạy 1 cạnh để học tṛ t́m ra 3 cạnh)
2.夫人禀五常,因风气而生长,风气虽能生万物,亦能害万物。如水能浮舟, 亦能覆舟。若五脏元贞通畅,人即安和,客气邪风,中人多死。千般疢难,不越 三条:一者,经络受邪,入脏腑为内所因也;二者,四肢九窍,血脉相传,壅塞不通,为外皮肤所中也;三者,房室金刃,虫兽所伤,以凡详之,病山都尽。若人能养慎,不令邪风干忤经络,适中经络,未流传脏腑,即医治之,四肢才觉重滞,即导引吐纳,针灸膏摩,勿令九窍闭塞。更能无犯王法,禽兽灾伤,房室勿 令竭之,服食节其冷、热、苦、酸、辛、甘,不遗形体有衰,病则无由入其腠理。腠 者,是三焦通会元贞之处,为血气所注:理者,是皮肤脏腑之文理也。
2. Con người bẩm thụ năm yếu tố thường hằng, do phong khí mà lớn lên, phong khí tuy có thể sinh ra vạn vật nhưng cũng có thể làm hại vạn vật. Nước có thể làm thuyền nổi th́ nước cũng có thể làm lật thuyền “Thuỷ năng phù chu diệc năng phục chu” (水能浮舟,亦能覆舟). Ngũ tạng thông suốt th́ con người được b́nh an, nếu có khách khí tà phong th́ con người sẽ bị bệnh nhiều hơn. Có nhiều khó khăn nhưng không quá ba điều: Thứ nhất là tà khí trong kinh lạc xâm nhập vào nội tạng là nguyên nhân nội tại; Thứ hai là tứ chi cửu khiếu và mạch máu bị tắc nghẽn, do tác động bên ngoài gây ra; Thứ ba là pḥng thất (đam mê sắc dục), bị thương do đao kiếm vết thương do côn trùng và thú dữ, nếu xử lư tốt mọi bệnh đều có thể cải thiện. Cẩn thận trong sinh hoạt, tránh được tà phong xâm phạm kinh lạc, không truyền vào tạng phủ th́ có thể điều trị, bệnh chỉ khiến tứ chi nặng nề, là có thể dùng phép thổ nạp (điều hoà hơi thở ), châm cứu, đắp cao dược, xoa bóp, khiến cho cửu khiếu không bế tắc. Không vi phạm phép nước, không để cầm thú gây tổn thương, không mê đắm pḥng dục làm cho suy kiệt, ăn uống điều tiết lạnh, nóng, đắng, cay, chua, ngọt để không làm cho h́nh thể suy yếu, bệnh sẽ không thể xâm nhập tấu lư. Tấu là nơi hội thông của tam tiêu và nguyên trinh, là nơi hội tụ của khí huyết, lư là biểu hiện thường xuyên (văn lư) của tạng phủ da thịt.
[Giải thích từ ngữ]
Ngũ thường: Ngũ hành thủy, hỏa, kim, mộc, thổ. Ngũ hành tương ứng với ngũ khí trên trời, ứng với ngũ vị ở dưới đất và bên trong ứng với ngũ tạng của con người.
Phong khí: Theo nghĩa hẹp của phong khí là chỉ phong khí của ngày xuân, theo nghĩa rộng, phong khí chỉ khí hậu của thiên nhiên, bài viết này nói về phong khí của thiên nhiên. Nguyên trinh nên được gọi là “Nguyên chân” (元真), ám chỉ nguyên khí và chân khí của năm cơ quan nội tạng.
Khách khí tà phong: Đối với chủ khí th́ gọi là khách khí, và đối với chính khí th́ gọi là tà khí. Nói chung, là nói đến khí hậu bất thường gây ra bệnh. Sấn nan: có nghĩa là bệnh tật.
Hướng dẫn phương pháp thổ nạp: Dùng ư thức hướng dẫn hơi thở để thải ra cái cũ và hấp thụ cái mới, khiến cho ngũ tạng nguyên chân thông sướng.
Thoa thuốc cao: Các phương pháp điều trị bên ngoài như bôi thuốc cao hoặc xoa bóp tay.
Phục thực: Phục là chỉ về quần áo, thực là đồ ăn thức uống.
【Giải thích】
Bài viết này tŕnh bày rằng con người và môi trường tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất, “Nhân bẩm ngũ thường” là hằng số ngũ hành của con người, sự phát triển và tồn tại của chúng phụ thuộc vào phong khí. V́ vậy, câu “Nhân phong khí nhi sinh trưởng”(因风气而生长) chỉ ra rằng điều kiện sống không thể tách rời với không khí, và không khí cũng chính là phong khí. Nếu phong khí lưu hành bốn mùa phù hợp với yêu cầu của khí hậu tự nhiên th́ vạn vật đều có thể phát triển, nếu khí hậu tự nhiên thất thường th́ có thể gây hại vạn vật và trở thành nhân tố gây bệnh cho con người. Tuy vậy, yếu tố gây bệnh có dẫn đến phát sinh bệnh tật hay không c̣n phụ thuộc vào năng lực đề kháng của cơ thể. Chỉ cần khí nguyên chân của ngũ tạng sung thực, doanh vệ thông suốt, khả năng kháng bệnh mạnh mẽ, có thể thích ứng với khí hậu bất thường mà không bị tà khí ảnh hưởng. Ngược lại, tà khí bệnh độc có thể lợi dụng t́nh thế hư yếu mà xâm nhập vào cơ thể con người, thậm chí gây tử vong. Có ba nguyên nhân gây bệnh: Thứ nhất là chính khí hư yếu, kinh lạc thụ tà và truyền vào tạng phủ; Thứ hai là chính khí hư yếu, khách khí phong tà xâm phạm vào da thịt, truyền vào huyết mạch, khiến kinh lạc của tứ chi, cửu khiếu, nghẽn tắc bất thông, thứ ba là ngoại thương do đao kiếm, côn trùng, thú dữ, đây là nhân tố gây bệnh khác với các nguyên nhân nêu trên.
Vượt qúa mức độ b́nh thường sẽ gây tổn hại tinh khí bên trong cơ thể, nếu biết nuôi dưỡng chính khí bên trong, khiến chính khí luôn sung măn, phong hàn tà khí sẽ không thể xâm phạm kinh lạc. Nếu không cẩn thận, bệnh tà bên ngoài xâm nhập kinh lạc, khi chưa truyền nhập tạng phủ, cần kịp thời điều trị. Như bệnh tà trúng kinh lạc, tứ chi sẽ có cảm giác nặng nề, liền dùng các phương pháp điều trị như đạo dẫn (导引) là khí công, thổ nạp (吐纳) là hít thở, châm cứu, cao luyên (xoa bóp thuốc), th́ bệnh tà không thể truyền nhập vào trong, không khiến cho cửu khiếu bế tắc không thông. Lúc b́nh thường nên sinh hoạt đúng phép tắc, tránh bị cầm thú gây thương tích, không sắc dục quá độ để tránh tổn háo tinh dịch, ẩm thực nên điều chỉnh lạnh nóng vừa phải để không tổn thương tỳ vị, ngũ vị không thiên lệch, dinh dưỡng đầy đủ để thân thể khoẻ mạnh th́ các nhân tố bệnh khó xâm nhập thấu lư. Thấu lư là ǵ? “Thấu” (腠), là nơi hội thông nguyên khí của tam tiêu, lư là hoa văn của tạng phủ. Thấu lư là cơ năng pḥng ngự tật bệnh như một rào chắn của cơ thể.
[Ghi chú chọn lọc]
{Y Tông Kim Giám}: “Ngũ thường cũng là ngũ hành. Khí của ngũ hành—— Phong, Thử, Thấp, Táo, Hàn, vị của ngũ hành——Chua, Đắng, Ngọt, Cay, Mặn. Con người bẩm thụ khí vị mà thành h́nh, tạng phủ tương thông với khí vị, không viết là ngũ khí mà viết là phong khí, cũng chính là nói về khí. Phong quán xuyến tứ khí, tứ đức, do đó: Nhờ phong mà sinh trưởng. Tuy phong có thể sinh vạn vật, nhưng cũng có thể hại vạn vật, chủ khí chính phong chủ nuôi dưỡng vạn vật, khách khí tà phong, đến từ phía sau, chủ sát hại vạn vật. Con người ở giữa hai khí (Chủ khí và khách khí), có sinh có hại, v́ nước có thể nâng thuyền, cũng có thể lật thuyền. Trời có ngũ khí, người có khí của ngũ tạng, nếu khí ngũ tạng thông sướng tương sinh, th́ dù có khách khí tà phong, cũng không thể gây hại, con người tự an hoà, nếu không thông sướng th́ khách khí tà phong, thừa cơ hội xâm nhập, gây hại cho người. Nếu con người nuôi dưỡng h́nh khí cẩn thận, không cho khách khí tà phong xâm nhập kinh lạc, tức là bệnh ở kinh lạc, chưa truyền tạng phủ, đă điều trị ngay để được khỏi bệnh. Tứ chi cửu khiếu, có cảm giác nặng nề, chưa bị bế tắc, th́ có thể điều trị khỏi bệnh bằng các phương như đạo dẫn (khí công), thổ nạp (hít thở), châm cứu và xoa bóp thuốc. Sinh hoạt cẩn trọng, tránh cầm thú gây hại, pḥng thất tiết độ, thực phẩm lạnh nóng đúng mực, ngũ vị vừa phải, không khiến h́nh khí suy yếu, vạn bệnh khó nhập vào thấu lư, thấu là khe lưu thông của khí huyết, tam tiêu là con đường hội thông của chân nguyên. Lư là da thịt của tạng phủ, trong ngoài mạch lạc, không loạn thứ tự.”
Kim Quỹ LĐC 2
3/ 問曰:病人有氣色見於面部, 原聞其說?師曰:鼻頭色青,腹中痛,苦冷者死,(一云:腹中冷,苦痛者死。)鼻頭色微黑者,有水氣;色黃者,胸上有寒;色白者,亡血也;設微赤非時者,死。其目正圓者,痙,不治。又色青為痛,色黑為勞,色赤為風,色黃者便難,色鮮明有留飲。
3/ Vấn viết: Bệnh nhân hữu khí sắc kiến ư diện bộ, nguyên văn kỳ thuyết? Sư viết: Tỵ đầu sắc thanh, phúc trung thống, khổ lănh giả tử nhất vân: Phúc trung lănh, khổ thống giả tử. Tỵ đầu sắc vi hắc giả, hữu thuỷ khí; Sắc hoàng giả, hung thượng hữu hàn; Sắc bạch giả, vong huyết dă. Thiết vi xích phi thời giả tử. Kỳ mục chính viên giả kính, bất trị. Hựu sắc thanh vi thống, sắc hắc vi lao, sắc xích vi phong, sắc hoàng giả tiện nan, sắc tiên minh hữu lưu ẩm.
[Giải thích]
Bài này tŕnh bày phương pháp vọng chẩn (quan sát) của các thày thuốc cao minh. Thày thuốc thông qua quan sát khí sắc trên mặt bệnh nhân, có thể phán đoán vị trí và tính chất của tật bệnh, v́ tinh huyết trữ tàng trong ngũ tạng, thông qua kinh lạc huyết mạch mà biểu hiện ra ngoài mặt. Nếu độ sáng và màu sắc của các bộ phận tương ứng trên khuôn mặt phát sinh biến hoá, th́ có thể phản ánh bệnh của lục phủ ngũ tạng. Như mũi ứng với tạng tỳ, nếu trên mũi xuất hiện màu xanh, lại thấy bệnh nhân đau bụng th́ đây là biểu hiện của tạng can thừa tỳ, nếu bụng đau co thắt và lạnh buốt, là những chứng trạng cụ thể của chứng tỳ dương suy bại và hàn ngưng thuỷ tụ. Nếu mũi xuất hiện màu hơi đen, đen là màu của thuỷ, là thuộc hiện tượng thận dương suy yếu, hàn thuỷ ngưng tụ bất hoá, v́ thế màu nay chủ về bệnh của thuỷ khí. Màu vàng thuộc thổ, ứng với tạng tỳ, nếu sắc mặt vàng tối, là biểu hiện của tỳ khí hư nhược, tinh của thuỷ cốc không thể phân bố ra chung quanh, thuỷ ẩm đ́nh trệ ở giữa lồng ngực và hoành cách, v́ thế màu vàng chủ về lồng ngực bị lạnh. Nếu mặt có sắc trắng là chủ về chứng vong huyết (mất máu) ; Nếu người bệnh mất máu mà sắc mặt hơi đỏ, và nếu đang là mùa đông, th́ gọi là “Phi kỳ thời nhi hữu kỳ sắc” (非其时而有其色), là sắc và thời không hoà hợp, là biểu hiện của âm dương đều tổn thương, hư dương phù việt ra ngoài, v́ thế tiên lượng bệnh là không tốt. C̣n như mất máu quá nhiều, âm tuyệt huyết vong, không thể tưới nhuần mắt và cơ bắp, đầu tiên thấy hai mắt bệnh nhân trợn tṛn trực thị (nh́n thẳng) như mắt cá không nhắm lại, đồng thời phát sốt, là biểu hiện của can âm suy kiệt, thuộc chứng bất trị. “Sắc thanh vi thống” (色青为痛) màu xanh chủ về đau. Nguyên nhân là do huyết mạch ngưng sáp (đóng băng mà tŕ trệ) không thông, v́ thế màu xanh chủ về chứng đau; “Sắc hắc vi lao” (色黑为劳),sắc đen là màu của thuỷ, ứng với thận ở trong cơ thể, Nếu thận tinh không đầy đủ, dương suy không ấm áp, âm hàn bố tán mạnh, v́ thế sắc đen chủ về bệnh thận lao (thận hư). “Sắc xích vi phong” (色赤为风), phong là dương tà, thường hoá theo hoả, dương nhiệt nổi lên trên (thượng phù), nên mặt đỏ chủ về phong, “Sắc hoàng giả tiện nan” (色黄者便难) màu vàng là táo bón, mặt vàng thuộc tỳ hư không kiện vận, tân dịch không được phân bố, không thể tưới nhuần đại tràng, đại tràng khô khan v́ thế đại tiện khó khăn; “Sắc tiên minh giả hữu lưu ẩm” (色鲜明者有留饮), màu sắc tươi sáng là thuỷ ẩm đ́nh trệ bên trong, tràn vào da thịt, mặt bị thuỷ thũng, nên thấy sắc mặt sáng tươi.
[Ghi chú tùy chọn]
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển}: “Sự phân biệt về khí sắc được gọi là vọng (quan sát), là cách nh́n vào màu sắc để nhận biết bệnh. Chóp mũi là vùng của tạng tỳ: Màu xanh lá cây là màu của tạng can; Đau bụng có nghĩa là can mộc xâm hại tỳ thổ, nếu bụng đau co thắt và lạnh lẽo là biểu hiện của vong dương và hàn thuỷ hỗ trợ bệnh tà nên bệnh rất nguy hiểm. Tạng thận chủ thuỷ có màu đen, tỳ nhờ vào thận khí thắng thế nên có thuỷ khí. Màu vàng, mặt cũng vàng là bệnh ở tạng tỳ, tạng tỳ bị bệnh th́ sinh ẩm (tỳ hư sinh thấp thịnh), v́ thế lồng ngực bị lạnh gọi là hàn ẩm. Màu trắng, mặt cũng trắng là biểu hiện của chứng mất máu, không tươi tắn v́ thế chỉ là màu trắng, mất máu nên dương càng không thể phù việt (nổi ra ngoài), nếu có sắc đỏ mà không đúng thời của hoả, th́ không nghi ngờ đây chính là biểu hiện của hư dương trôi nổi lên trên và là dấu hiệu của sự chết. Mắt tṛn xoe trực thị (nh́n thẳng), là biểu hiện của âm tuyệt, co giật là bệnh phong mạnh, âm tuyệt phong mạnh cũng là chứng bất trị.
4.师曰:病人语声寂然,喜惊呼者,骨节间病,语声喑喑然不彻者,心膈间病;语声啾啾然细而长者,头中病一作痛。
Giải thích từ
Tịch nhiên (寂然) : Nó có nghĩa là im lặng, thành ngữ trầm và không nghe được.
Im lặng (喑喑然): là giọng nói không vang và không rơ ràng.
Thu thu nhiên (啾啾然)lẩm bẩm nỉ non, nói giọng nhỏ, dài và buồn thảm.
[Giải thích]
Bài viết này thảo luận về ứng dụng lâm sàng của văn chẩn (dùng tai nghe âm thanh để chẩn đoán bệnh). Người bệnh hàn ngưng huyết trệ trong khớp, khiến khớp không trơn tru thuận lợi, khi an tĩnh không hoạt động th́ khớp thường không đau hoặc chỉ đau nhẹ nên bệnh nhân khi không hoạt động bệnh nhân thường yên lặng, nhưng khi vận động th́ cảm thấy các khớp đau nhiều nên khi vận động hoặc khi trở ḿnh th́ bệnh nhân thường rên rỉ. Nếu đờm trọc, đàm dăi làm tắc nghẽn phổi và cơ hoành, phế khí không thông suốt, tiếng nói của người bệnh sẽ không rơ ràng, nếu người bệnh đau đầu, khi nói lớn th́ đầu năo sẽ chấn động gây đau đầu tệ hại hơn, nên bệnh nhân thường nói nhỏ và giọng nói kéo dài mà không dám nói to.
Chú thích chọn lựa
{Kim Quỹ Yếu Lược Phát Vi}: “Người không bị bệnh, nói năng b́nh thường, tuy tiếng nói cao thấp nhanh chậm khác nhau, nhưng tiếng nói thường không có điểm đặc dị (đặc biệt quái dị). Khi hàn thấp xâm nhập xương khớp, gây đau ê ẩm, bệnh nhân không muốn nói nên thường im lặng, khi vận động th́ các khớp đau tệ hơn nên bệnh nhân thường rên rỉ trong khi chuyển trắc (giở ḿnh). Khi đàm thấp gây trở ngại phế nên tiếng nói của người bệnh không vang và rơ ràng. Bệnh nhân đau đầu, khi nói to th́ đầu như muốn vỡ ra, nên bệnh nhân thường nói nhỏ và kéo dài, bệnh nhân sợ đau mà không dám nói to.
5/ 师曰:息摇肩者,心中坚;息引胸中上气者咳;息张口短气者,肺痿唾沫。
5/ Sư viết: Tức dao kiên giả, tâm trung kiên; Tức dẫn hung trung thượng khí giả khái; Tức trương khẩu đoản khí giả, phế nuy thoá mạt.
[Giải thích]
Đoạn văn này thảo luận về phương pháp dựa theo h́nh thái biến hoá khi bệnh nhân hít thở để kiểm tra bệnh tật. Tức (息)là hô hấp. Khi hít thở mà vai bị dao động, đây chính là biểu hiện của chứng khó thở, nên bệnh nhân khi thở có trạng thái so vai, nâng sườn. “Tâm trung kiên”(心中坚), chỉ về có nhiều tà khí kiên cố trong ngực bệnh nhân, khiến cho bệnh nhân bị suyễn. Nếu hô hấp dẫn khí trong ngực nghịch lên gây ho th́ thành bệnh ho, là bệnh của tà khí gây trở ngại tạng phế, nếu khi thở bệnh nhân phải há miệng và hơi thở ngắn là biểu hiện có nhiệt ở thượng tiêu (bị nóng), phế diệp (lá phổi) khô héo, phế khí không đầy đủ, phế nuy th́ tân dịch không vận hành nên bệnh nhân thường nhổ bọt dăi.
Tuyển chú (Chú thích tuyển chọn)
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển} Tâm trung kiên là chứng khí thực khi hít thở ra vào bị nghẽn trở, v́ thế khi thở bệnh nhân so vai, ho là khí nghịch mà phế không tuyên giáng khiến cho khi thở th́ dẫn khí nghịch lên. Phế nuy (héo)
6/:师曰:吸而微数,其病在中焦,实也,当下之即愈,虚者不治。在上焦 者,其吸促;在下焦者,其吸远,此皆难治。呼吸动摇振振者,不治。
6/ Sư viết: Hấp nhi vi sác, kỳ bệnh tại trung tiêu, thực dă, đương hạ chi tức dũ, hư giả bất trị. Tại thượng tiêu giả, kỳ hấp súc; Tại hạ tiêu giả, kỳ hấp viễn, thử giai nan trị. Hô hấp động dao chấn chấn giả, bất trị.
{Giải thích}
Điều văn này dựa theo biểu hiện khác nhau của hô hấp để phân biệt vị trí và phán đoán t́nh trạng nặng nhẹ của bệnh, bệnh nhân hít vào hơi nhanh, chính là hít vào ngắn và gấp (đoản xúc), thường do trở ngại ở trung tiêu, khí không thể giáng xuống, v́ thế hít vào hơi nhanh. Nếu dùng phép công hạ thực chứng ở trung tiêu, khiến khí tỳ vị thuận lợi, hô hấp có thể tự khôi phục b́nh thường. Nếu hít vào hơi nhanh, do tông khí suy kiệt, tạng thận không nạp khí, là hô hấp không có căn bản , th́ thuộc chứng bất trị. “Tại thượng tiêu, kỳ hấp xúc” (在上焦者,其吸促) chỉ về tông khí của tâm phế suy kiệt, khí không nhập vào được lại trở về, hít vào nông và ngắn. “Tại hạ tiêu giả, kỳ hấp viễn” (在下焦者,其吸远), là chỉ về nguyên khí của can thận suy kiệt, thận không nạp khí, khí muốn về nhưng không đến được, nguyên tắc là khí hít vào phải dài mà sâu, khí hít vào ở thượng tiêu và ở hạ tiêu đều hơi nhanh (vi sác) là hiện tượng không phân biệt (thượng và hạ tiêu) th́ thuộc chứng khó điều trị. Khi hô hấp toàn thân rung lắc chấn động, là biểu hiện của suy nhược cực độ, h́nh suy khí nhược, là h́nh tượng của một thân thể không thể tác động, nên gọi là bất trị.
Chú giải
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển} Tức (息) là nói chung về hô và hấp, hô là thở khí ra, hấp là nhập khí vào. Trung tiêu thực chứng th́ khí nhập vào không thể đi xuống, v́ thế hít vào hơi nhanh (sác), sác giống như súc (gấp rút). Nếu dùng phép công hạ trừ khứ được thực chứng th́ khí thông sướng và khỏi bệnh, Nếu không thuộc thực chứng mà thuộc hư chứng, th́ đây là khí vô căn thất thủ (không có gốc, không giữ được) tan trong khoảnh khắc, v́ thế nên gọi là bất trị. Hoặc viết: Trung tiêu thực nhưng nguyên khí hư, nên không thể chịu được công hạ, lại không thể tự điều hoà nên bất trị, nói như vậy cũng thông. Thực ra ở thượng tiêu, khí không thể nhập mà phải trở lại, th́ hít vào cấp bách, cấp bách (súc) cũng giống như đoản (thở ngắn), thực tại ở hạ tiêu, khí muốn về nhưng không thể đến nhanh chóng, phải hít sâu, sâu cũng giống như dài, hai bệnh ở thượng, hạ tiêu, đều liên quan đến tạng khí, nếu không thuộc thực chứng ở trung tiêu, để có thể dùng phép công hạ trừ khứ bệnh, th́ gọi là khó trị, khi hô hấp chấn động toàn thân, khí thịnh mà h́nh suy, không thể ở lại, nên cũng thuộc chứng bất trị.
7. 师曰:寸口脉动者,因其王时而动,假令肝王色青,四时各随其色。肝色青而反色白,非其时色脉,皆当病。
7/ Sư viết: Thốn khẩu mạch động giả, nhân kỳ vượng thời nhi động, giả linh can vượng sắc thanh, tứ thời các tuỳ kỳ sắc, can sắc thanh nhi phản sắc bạch, phi kỳ thời sắc mạch, giai đương bệnh.
Giải thích
Điều văn này thảo luận sắc và mạch hợp với bốn mùa, sự khác biệt của đúng thời và không đúng thời. Biến hoá của khí hậu 4 mùa, có thể ảnh hưởng đến biến hoá sinh lư của thân thể ngũ tạng, theo đó sắc mặt và mạch tượng ở thốn khẩu cũng có những biến hoá tương ứng. Như ở mùa xuân, khí hậu ôn hoà, khí dương thăng lên, là thời gian thuộc mộc khí nên mạch huyền và sắc mặt xanh; Thịnh hạ (những ngày nóng nhất của mùa hạ) có khí hậu viêm nhiệt, là thời gian thuộc hoả khí, nên mạch hồng và sắc mặt đỏ; Mùa thu khí hậu khô mát, là thời gian của kim khí nên mạch phù và sắc mặt trắng; Mùa đông khí hậu lạnh lẽo, đúng thời của thuỷ khí, v́ thế nên mạch trầm và sắc mặt có màu đen, đó là sắc mạch b́nh thường hợp với thời của ngũ tạng. Giả như mùa xuân mà sắc mặt trắng, mạch lại phù sác và đoản, chính là mùa xuân lại thấy sắc mạch của mùa thu, là biểu hiện dị thường, đây chính là thuộc về phản ảnh bệnh lư dị thường, v́ thế kinh viết “Phi kỳ thời sắc mạch giai đương bệnh” (非其时色脉皆当病。) Sắc mạch không đúng thời, đều là biểu hiện của bệnh.
[Tuyển chú]
{Y Tôn Kim Giám}: “Thốn khẩu là nói chung về ba bộ mạch bên trái và bên phải, mạch động theo bốn mùa, mệnh ở ngũ tạng, tất nhiên mạch đập theo thời vượng là mạch b́nh thường. Như tạng can vượng vào mùa xuân, tuỳ theo thời, sắc nên xanh, mạch nên huyền, đó là sắc mạch b́nh thường không bị bệnh. Ngược lại nếu là sắc trắng, mạch lại phù, là không đúng thời, là sắc mạch của bệnh. Bốn mùa theo đó làm tiêu chuẩn.
8.问日:有未至而至,有至而不至,有至而不去,有至而太过,何谓也?师 曰:冬至之后,甲子夜半少阳起,少阳之时阳始生,天得温和。以未得甲子,天 因温和,此为未至而至也;以得甲子而天未温和,为至而不至也;以得甲子而天 大寒不解,此为至而不去也;以得甲子而天温如盛夏五六月时,此为至而太过也。
8/ Vấn viết: Hữu vị chí nhi chí, hữu chí nhi bất chí, hữu chí nhi bất khứ, hữu chí nhi thái quá, hà vị dă? Sư viết: Đông chí chi hậu, giáp tư dạ bán thiếu dương khởi, thiếu dương chi thời dương thuỷ sinh, thiên đắc ôn hoà. Dĩ vị đắc giáp tư, thiên nhân ôn hoà, thử vi vị chí nhi chí dă; Dĩ đắc giáp tư nhi thiên vị ôn hoà, năi chí nhi bất chí dă; Dĩ đắc giáp tư nhi thiên đại hàn bất giải, thử vi chí nhi bất khứ dă; Dĩ đắc giáp tư nhi thiên ôn như thịnh hạ ngũ lục nguyệt thời, thử vi chí nhi thái quá dă.
Từ giải (Giải thích từ)
Vị chí nhi chí: Mùa chưa đến mà khí hậu đă đến. Chữ “Chí” trước chỉ về mùa, chữ “Chí” sau chỉ về khí hậu.
Giáp tư: Chỉ về sau đông chí, kinh qua 60 ngày của ngày giáp tư lần thứ nhất.
Thiếu dương chi thời: Tam âm và tam dương mỗi thứ đều vượng 60 ngày, tổng cộng là 360 ngày. Sau ngày đông chí, chính là đúng thời của thiếu dương.
Giải thích
Điều văn này đề xuất khí hậu và tiết khí cần phải thích ứng với nhau, t́nh trạng thái quá và bất cập của khí hậu đều sẽ ảnh hưởng đến cơ thể mà phát sinh bệnh tật. Một năm có 24 tiết khí, khí hậu của mỗi tiết khí đều khác biệt. Tiết vũ thuỷ sau đông chí (tức là nửa đêm của ngày giáp tư lần thứ nhất), chính là thời gian thích hợp của Thiếu dương, dương khí bắt đầu sinh trưởng, khí hậu chuyển về ôn hoà, chính là quy luật b́nh thường của khí hậu. Nếu chưa đến tiết vũ thuỷ, mà khí hậu đă chuyển sang ôn hoà. Đó chính là chưa đến mà đến là vị chí nhi chí, đó là thời lịnh (tiết khí) chưa đến mà khí hậu đến trước; Nếu đă đến tiết vũ thuỷ, mà khí hậu chưa chuyển ôn hoà, đó chính là chí nhi bất chí, là thời lịnh (tiết khí) đă đến mà khí hậu chưa đến. Nếu như đă đến tiết vũ thuỷ mà khí hậu c̣n rất lạnh, đó chính là chí nhi bất khứ, là tiết khí đă đến tiết vũ thuỷ, mà khí lạnh mùa đông vẫn không đi, nếu đă đến tiết khí vũ thuỷ mà khí hậu lại nóng như thời gian nóng nhất của mùa hè, đó chính là chí nhi thái quá, chính là thời gian đă vượt qua tiết vũ thuỷ, là chí nhi thái quá. Tóm lại, phàm khi khí hậu đến trước, không đến, không đi, thái quá đều thuộc khí hậu dị thường, tất cả sẽ ảnh hưởng đến khí huyết của cơ thể mà phát sinh bệnh.
Tuyển chú
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển} Là khởi đầu của thiếu dương, thái dương nhô lên từ mặt đất, dương bắt đầu sinh, khởi đầu mạnh mẽ mà sinh hoá vật, không phải đông chí nhất dương sinh, hăy thử thảo luận về nó. Hạ chí nhất âm sinh, là hạ cực độ sinh âm, mà sau đó có tiết tiểu thử, đại thử; Đông chí nhất dương sinh, mà sau là tiểu hàn, đại hàn, không phải âm sinh mà phản nhiệt, dương sinh mà phản hàn. Đạo của trời đất, bĩ bất cực tắc bất thái (không bế tắc cực độ th́ không hanh thông), khí âm dương, bác (quẻ sơn địa bác) bất cực tắc bất phục (Quẻ phục), ngày hạ chí lục âm hết sạch trên mặt đất, mà sau nhất sinh ở dưới đất, là đúng thời của âm sinh, cũng đúng thời của dương cực (độ); Đông chí lục dương hết sạch trên mặt đất, mà sau đó nhất dương sinh ra ở đất, chính là đúng thời của dương. Chính là thời của âm cực (độ). Dương cực mà đại nhiệt, âm cực mà đại hàn, cũng là đạo của tự nhiên, th́ cái gọi là dương bắt đầu sinh th́ trời được ôn ḥa, cái này không thể giống như dương sinh ngày đông chí, phải kiểm tra nó. Có thể nhiệt độ đă ấm trước khi đến ngày giáp tư, hoặc có thể ấm sau khi đến ngày giáp tư, hoặc có thể cực kỳ lạnh ngay cả sau khi đến ngày giáp tư, hoặc có thể giống như tháng năm hoặc tháng sáu giữa mùa hè, khi khí có tiêu có trưởng, có thể xảy ra hoặc sau hoặc trước, mà con người trong giai đoạn thời khí chuyển giao, thường do đó mà bị bệnh, chỉ có người nào thuận theo tự nhiên, biến thông với tự nhiên, nghỉ ngơi hưu dưỡng (tiêu tức) là không nghịch nhĩ vậy.
9.师曰:病人脉浮者在前,其病在表;浮者在后,其病在里。腰痛背强不能行, 必短气而极也.
9/ Sư viết: Bệnh nhân mạch phù giả tại tiền, kỳ bệnh tại biểu, phù giả tại hậu, kỳ bệnh tại lư. Yêu thống bối cường bất năng hành, tất đoản khí nhi cực dă.
【Giải thích】
Bài viết này đưa ra một ví dụ về cùng một loại mạch, khi xuất hiện ở các vị trí khác nhau th́ chủ bệnh sẽ khác biệt. “Bệnh nhân mạch phù giả tại tiền” (病人脉浮者在前), tức là mạch phù ở bộ thốn, đây là hiện tượng chính khí hướng ra ngoài đề kháng bệnh tà ở biểu. Như ngoại cảm biểu chứng, thốn khẩu mạch phù mà có lực, lại kèm theo các biểu chứng như ghét lạnh phát sốt, đau đầu đau người. “Phù giả tại hậu” (浮者在后) chỉ về mạch phù ở bộ xích, đây chính là hiện tượng thận âm không đầy đủ, hư dương vượt ra ngoài. Âm hư mà dương trương (hư trương), mạch phù tất nhiên là vô lực, lại kèm theo thận suy xương yếu dẫn đến eo lưng đau cứng, xương cốt vận động vô lực, và thận không nạp khí xuất hiện hội chứng hô hấp khí đoản rất tệ. Tóm lại mạch phù là biểu hiện của khí huyết hướng lên trên hoặc hướng ra ngoài, có ngoại cảm biểu chứng và nội thương hư chứng khác nhau, cần phải nhận rơ vị trí, t́nh trạng mạnh yếu và các chứng trạng khác của mạch phù, từ đó có thể vận dụng khả năng để nhận biết bản chất của bệnh.
[Tuyển chú]
“Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển”: “Tiền, là trước bộ quan, hậu, là sau bộ quan: Trước bộ quan là dương, sau bộ quan là âm, mạch phù ở trước bộ quan, là dương ở vị trí dương, nên bệnh ở biểu (bên ngoài); Mạch phù ở sau bộ quan, là dương ở vị trí âm là bệnh tại lư (bên trong), mà bệnh tại lư nhưng lại là mạch dương là biểu của lư, mà không phải lư của lư, nên bệnh không ở trong ruột trong thận, mà bệnh ở eo lưng, đầu gối, cẳng chân, nếu bệnh phát triển đến thận tất sẽ xuất hiện hơi thở ngắn tệ hại. Sở dĩ như vậy là do tổn thương hữu h́nh không được trừ khứ, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến khí vô h́nh, nói cách khác, biểu bệnh không trừ, lâu ngày bệnh sẽ nhập lư.
10.问曰:经云:厥阳独行,何谓也? 师曰:此为有阳无阴,故称厥阳。
10. Hỏi: Kinh nói: Quyết dương độc hành hà vị dă? Sư viết: Thử vi hữu dương vô âm, cố xưng quyết dương.
【Giải thích】
Bài viết này thảo luận về cơ chế bệnh của Quyết Dương. “Quyết Dương độc hành” có nghĩa là khi âm huyết trong gan thận của con người cạn kiệt, khí dương mất đi sự nương tựa, khí dương chiếm ưu thế. Có dương mà không có âm, có thăng mà không có giáng nên dương vận động một ḿnh (độc hành), gây ra các triệu chứng như mặt đỏ bừng, chóng mặt, tinh thần hôn ám, không nói được…
[Tuyển chú]
“Y Tôn Kim Giám”: “Âm dương cùng vận động, là thuận; Âm dương vận động một ḿnh (độc hành), là nghịch; Quyết, là nghịch, nghịch dương vận động một ḿnh, là có dương mà không có âm , nên gọi là Quyết dương.”
11. 问曰:寸脉沉大而滑,沉则为实,滑则为气。实气相搏,血气入脏即 死,入腑即愈,此为卒厥。何谓也?师曰: 唇口青,身冷,为入脏即死; 如身和, 汗自出,为入腑即愈。
11. Vấn viết: Thốn mạch trầm đại nhi hoạt, trầm tắc vi thực, hoạt tắc vi khí, thực khí tương bác, huyết khí nhập tạng tức tử, nhập phủ tức dũ, thử vi thốt quyết. Hà vị dă? Sư viết: Thần khẩu thanh, thân lănh, vi nhập tạng tức tử; Như thân hoà, hăn tự xuất, vi nhập phủ tức dũ.
[Giải thích từ ngữ]
Thốt quyết (卒厥): Đột nhiên hôn mê ngă xuống.
【Giải thích】
Bài viết này lấy hội chứng “Thốt quyết” làm ví dụ để giải thích quy luật truyền biến bệnh tật và các phương pháp dự đoán diễn biến của bệnh. Mạch hai tay ở thốn bộ, mạch trầm đại mà hoạt, trầm đại là chứng lư thực, hoạt là khí uất trệ. Nếu bệnh tà theo khí huyết xâm nhập vào tim, khí trệ huyết ứ mà không lưu thông, nên thần khứ và cơ thể ngưng hoạt động (tắc thần khứ cơ tức), nên miệng môi xanh, thân thể lạnh lẽo, đột nhiên mê man ngă ra và chết, nếu tà khí nhập phủ th́ lưu truyền mà không tàng trữ lại, khi khí huyết c̣n lưu thông, dương khí thông suốt ra ngoài, cơ thể sẽ hài hoà, mồ hôi tự xuất và khỏi bệnh.
[Ghi chú tùy chọn]
“Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú”: Tà khí xâm nhập tạng, tinh thần mê muội, đột nhiên bất tỉnh nhân sự gọi là thốt quyết. Nếu miệng môi xanh, thân thể lạnh giá, là biểu hiện của tà khí nhập tạng, nghẽn tắc khí huyết, thần cơ không thể ra vào (thần cơ là sự sống), tạng khí tuyệt, nên chủ về sự chết; Nếu thân thể điều hoà, xuất mồ hôi, mà tà khí nhập phủ, gây bế tắc phủ khí, không thể xuất nhập, nhất thời ngă ra, nhưng không như tạng khí tuyệt, trong khoảnh khắc dương khí thông ra ngoài (ngoại đạt), tà khí theo đó mà tiết ra ngoài, v́ thế mà biết rằng tà khí nhập phủ th́ có thể khỏi bệnh.
12. 问曰:脉脱入脏即死,入腑即愈,何谓也?师曰:非为一病,百病皆然。譬如浸淫疮,从口起流向四肢者,可治;从四肢流来入口者,不可治;病在 外者,可治;人里者,即死。
12. Vấn viết: Mạch thoát nhập tạng tức tử, nhập phủ tức dũ, hà vị dă? Sư viết: Phi vi nhất bệnh, bách bệnh giai nhiên. Thí như tẩm dâm sang, ṭng khẩu khởi lưu hướng tứ chi giả, khả trị; Ṭng tứ chi lưu lai nhập khẩu giả, bất khả trị, bệnh tại ngoại giả, khả trị; Nhập lư giả, tức tử.
[Giải thích từ ngữ]
Mạch thoát: tà khí đột nhiên tăng lên, khí huyết tắc nghẽn, mạch tuyệt tựa thoát.
Vết loét: là vết loét nước màu vàng trên da, có thể lây lan từ cục bộ ra toàn cơ thể.
【Giải thích】
Bài viết này tŕnh bày bệnh tật truyền biến có t́nh trạng thuận nghịch khác nhau. “Mạch thoát” (脉脱) ám chỉ sự đấu tranh giữa chính và tà (giữa năng lực kháng bệnh và bệnh), tà khí bức bách kinh mạch, chính khí bị lấn át, kinh mạch không thông tự như bị mất mạch (thoát mạch). Nếu tà khí xâm nhập vào nội tạng th́ vào sâu và khó xuất ra ngoài, nên khí bị suy kiệt không thể phục hồi mà dẫn đến tử vong; Tà khí nhập phủ th́ xâm nhập nông và dễ thông, v́ vậy khi khí lưu thông mạch xuất bệnh tà ra ngoài th́ khỏi bệnh.
Các vết loét do thấp nhiệt hoả độc xâm nhập vào bề mặt da và gây ra bệnh chàm da. Nếu chính khí suy nhược bệnh từ bên ngoài di chuyển đến miệng, là bệnh độc từ ngoài xâm nhập vào trong, nên không thể điều trị; Nếu bệnh từ miệng di chuyển hướng ra tứ chi, là biểu hiện của bệnh độc từ trong thông ra ngoài, nên có thể trị khỏi bệnh. Tóm lại, bệnh từ bên ngoài truyền vào bên trong là khó trị, từ bên trong truyền ra ngoài là dễ trị. Đây chính là
quy luật phổ biến của chẩn đoán bệnh tật, v́ thế có câu nói: “Phi vi nhất bệnh, bách bệnh giai nhiên” (非为一病,百病皆然。) Không phải chỉ một bệnh, trăm bệnh đều như vậy.
[Tuyển chú]
{Kim Quỹ Yếu Lược Chính Nghĩa} Tạng là âm, phủ là dương, âm chủ bên trong (lư), dương chủ bên ngoài. Phàm bệnh xuất dương (xuất ra ngoài) là nông, nhập âm (nhập vào trong) là sâu, đó chính là cơ sở khác biệt của sống chết . Bệnh ngoài da rơ ràng dễ nhận biết, và có thể thấy không chỉ đúng với bệnh đột quỵ, mà trăm bệnh trong ngoài đều có thể luận trị như vậy.
13/ 问曰:阳病十八何谓也? 师曰:头痛,项、腰、脊、臂、脚掣痛。阴病十八何谓也?师曰:咳,上气,喘,哕,咽,肠鸣胀满,心痛拘急。五脏病各有十八,合为九十病:人又有六微,微有十八病,合为一百八病,五劳,七伤、六 极、妇人三十六病,不在其中。清邪居上,浊邪居下,大邪中表,小邪中里,䅽饦之邪,从口入者,宿食也。五邪中人,各有法度,风中于前,寒中于暮,湿伤于下,雾伤于上,风令脉浮,寒令脉急,雾伤皮腠,湿流关节,食伤脾胃,极寒伤 经,极热伤络。
13/ Vấn viết: Dương bệnh thập bát hà vị dă? Sư viết: Đầu thống, hạng, yêu, tích, tí, cước xiết thống. Âm bệnh thập bát hà vị dă? Sư viết: Khái, thượng khí, suyễn, uế, yết, tràng minh trướng măn, tâm thống câu cấp. Ngũ tạng bệnh các hữu thập bát, hợp vi cửu thập bệnh; Nhân hựu hữu lục vi, vi hữu thập bát bệnh, hợp vi nhất bách bát bệnh, ngũ lao, thất thương, lục cực, phụ nhân tam thập lục bệnh, bất tại kỳ trung. Thanh tà cư thượng, trọc tà cư hạ, đại tà trung biểu, tiểu tà trung lư, hấn thác chi tà, ṭng khẩu nhập giả, túc thực dă, Ngũ tà trung nhân, các hữu pháp độ, phong trúng vu tiền, hàn trúng vu mộ, thấp thương vu hạ, vụ thương vu thượng, phong lịnh mạch phù, hàn lịnh mạch cấp, vụ thương b́ thấu, thấp lưu quan tiết, thực thương tỳ vị, cực hàn thương kinh, cực nhiệt thương lạc.
[Giải thích từ ngữ]
Ren: kéo. Đó là món bánh bột, là một loại món ăn như bánh canh.
【Giải thích】
Bài viết này thảo luận về phương pháp phân loại bệnh tật và quy luật của bệnh tà làm hại con người. Dương bệnh là chỉ về các bệnh chứng của kinh lạc ở ngoài biểu, bao gồm 6 bộ vị: Đầu, gáy, eo, lưng, cánh tay và chân, mỗi bộ vị lại có 3 loại tính chất, 3 nhân 6 thành 18, v́ thế dương bệnh là 18. Âm bệnh là chỉ về bệnh chứng của bên trong tạng phủ, bao gồm 9 loại bệnh như ho, thượng khí, suyễn, uế (oẹ). Yết (nghẹn), tràng minh (sôi bụng), trướng măn (đầy bụng), tâm thống (đau tim), câu cấp (co rút), mỗi bệnh lại chia thành hai loại hư và thực, hai nhân 9 là 18, nên âm bệnh là 18. Bệnh của ngũ tạng là 18, hợp thành 90 bệnh, nói rằng ngũ tạng cảm thụ phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả (lục dâm chi tà) thành bệnh, ở ba phần riêng gồm khí phận, huyết phận và khí huyết kiêm bệnh, 3 nhân 6 thành ngũ tạng có 18 bệnh, 18 nhân 5 thành 90 bệnh. “Lục vi” là chỉ về bệnh ở lục phủ, có bệnh tà lục dâm trúng vào lục phủ, lại có khí phận, huyết phận và khí huyết kiêm bệnh là ba phần khác biệt, 3 nhân 6 (lục vi) là 18 bệnh, tổng cộng ở phần trên là 6 lần 18, hợp thành 108 bệnh, ngũ lao là bệnh của ngũ tạng thụ thương, như nh́n lâu th́ tổn thương huyết dịch, nằm lâu tổn thương khí, ngồi lâu th́ tổn thương nhục (cơ nhục), đứng lâu th́ tổn thương xương cốt, đi lâu th́ tổn thương gân; Lại chỉ về tâm lao, phế lao, tỳ lao, thận lao, can lao, gọi là lao thương của ngũ tạng. Thất thương tổn thương do ăn, do lo âu, do uống, do pḥng thất, do đói, do làm việc quá độ, tổn thương kinh lạc doanh vệ khí. Lục cực (cực là có ư chỉ về lao tổn cực độ) là khí cực, huyết cực, cân (gân) cực, cốt (xương) cực, cơ cực (đói khát cực độ), tinh (tinh khí) cực. Phụ nữ có 36 bệnh, theo {Thiên Kim}ghi lại: là 12 bệnh trưng (ḥn khối), 9 bệnh đau, bảy hại, năm tổn thương, ba cố tật (chữa không khỏi), đều thuộc phụ khoa tạp bệnh. “Thanh tà cư thượng” (清邪居上), “Vụ thương vu thượng” (雾伤于上), “Vụ thương b́ thấu” (雾伤皮腠) v́ sương mù, hạt sương là những bệnh tà nhẹ nhàng, thường gây bệnh ở thớ thịt phần trên của bệnh nhân. “Trọc tà cư hạ” (浊邪居下), “Thấp thương vu hạ”( 湿伤于下), “Thấp lưu quan tiết” (湿流关节), gọi thuỷ thấp là bệnh tà nặng đục, gây tổn thượng ở dưới nhập vào khớp xương mà gây bệnh. “Đại tà trúng biểu” (大邪中表), “Phong trúng vu tiền” (风中于前), “Phong lănh mạch phù” (风令脉浮) gọi phong là dương tà, thường đả thương người trước buổi trưa, dẫn đến tổn thương do phong với mạch phù hoăn thuộc biểu chứng. “Tiểu tà trúng lư” (小邪中里) “Hàn trúng vu mộ” (寒中于暮), “Hàn lănh khí cấp” (寒冷脉急) v́ hàn là âm tà, thường xâm phạm cơ thể vào buổi sáng và chiều tối, dẫn đến hàn tà ngoại trúng, mạch khẩn cấp thuộc biểu chứng. “Lộc thác chi tà, ṭng khẩu nhập giả, túc thực dă”
(䅽饪之邪,从口入者,宿食也)Bệnh tà theo miệng vào là thực phẩm qua đêm chưa tiêu hoá, là ăn uống không tiết độ, gây tổn thương tỳ vị, dẫn đến các hội chứng như đau bụng, bụng đầy trướng… “Cực hàn thương kinh” (极寒伤经), là hàn tà đi về âm kinh mà chủ tĩnh, khiến kinh mạch không thông và đau. “Cực nhiệt thương lạc” (极热伤络) là nhiệt tà nhập vào mạch lạc chủ động khiến mạch lạc huyết bôn, xuất huyết… “Ngũ tà trúng nhân, các hữu pháp độ” (五邪中人,各有法度), là nói về vị trí, thời gian, biểu hiện mạch chứng của tổn thương đều có tính quy luật khách quan nhất định.
[Ghi chú tùy chọn]
“Y Tôn Kim Giám”: “Nhức đầu, đau gáy cổ, thắt lưng, cột sống, tay, chân đều là bệnh bên ngoài nên là dương bệnh; Ho, khó thở, suyễn, nôn khan, hầu họng, sôi ruột, đầy bụng, đau tim, co rút, là những bệnh tật ở bên trong, cho nên là âm bệnh, thanh tà (bệnh tà khinh thanh nhẹ nhàng)ở trên, tức là sương mù ở trên trời; Trọc tà (bệnh tà nặng đục) ở dưới, là nói về thấp tà căn bản ở dưới đất. Lục dâm là bệnh tà tự nhiên (thiên tà), c̣n gọi là đại tà, lục dâm gây tổn thương bên ngoài, v́ thế viết: Trúng biểu; Thất t́nh cảm xúc là bệnh tà của người gọi là nhân tà, có tên là tiểu tà, thất t́nh gây tổn thương bên trong, nên viết: Trúng lư. Lộc thác là nói về ẩm thực, bệnh tà của ẩm thực, theo miệng xâm nhập, ẩm thực tổn thương do qua đêm không tiêu hoá, nên gọi là túc thực (宿食)thực phẩm qua đêm. Ngũ tà là phong, hàn, thấp, vụ, ẩm thực. Ngũ tà đả thương con người, đều theo loại của ḿnh, tiền giả tảo dă (tiền là sớm), trúng phong lúc sớm, là theo dương loại. Hàn trúng vào lúc chạng vạng tối là theo âm loại. Sương sa trong trẻo nhẹ nhàng, thường gây tổn thương da thịt. Thấp tà nặng đục, nên thường xâm phạm xương khớp. Ăn uống không tiết độ khiến tổn thương tỳ vị. Ẩm thực hàn lănh cực độ tổn thương kinh, v́ kinh thuộc âm; Ẩm thực cực nhiệt gây tổn thương lạc, v́ lạc thuộc dương.
14.问曰:病有急当救里、救表者,何谓也?师曰:病,医下之,续得下利 清谷不止,身体疼痛者,急当救里,后身体疼痛,清便自调者,急当救表也。
14. Vấn viết: Bệnh hữu cấp đương cứu lư, cứu biểu giả, hà vị dă? Sư viết: : Bệnh, y hạ chi, tục đắc hạ lợi thanh cốc bất chỉ, thân thể đông thống giả, cấp đương cứu lư, hậu thân thể đông thống, thanh tiện tự điều giả, cấp đương cứu biểu dă.
【Giải thích】
Bài viết này thảo luận về biểu lư cùng bị bệnh và
nguyên tắc điều trị ưu tiên cho các trường hợp cấp thiết. Với bệnh nhân, thày thuốc công hạ nhầm làm tổn thương tỳ vị, bệnh nhân không ngừng tiết tả ra thực phẩm chưa tiêu hoá. Lúc này dù cơ thể bệnh nhân bị đau nhức là biểu hiện của biểu chứng chưa được giải trừ, dù vậy cũng cần phải khẩn cấp cứu lư. V́ nếu tiết tả thanh cốc không ngừng th́ dương khí sẽ hư bại và là t́nh trạng rất nguy hiểm, v́ thế nên dùng thang Tứ nghịch để ôn dương chỉ tả. Nếu sau khi uống thuốc, đại tiện điều hoà, tỳ vị khôi phục b́nh thường, lúc này nên nhanh chóng cứu biểu, để tránh bệnh tà ở biểu truyền nhập lư. Nên dùng thang Quế chi. Phần trước là ưu tiên cứu lư, v́ phù trợ chính khí là nhiệm vụ cấp bách, phần sau là khẩn cấp cứu biểu, trừ khứ bệnh tà để ngăn chặn sự truyền biến của bệnh.
[Ghi chú tùy chọn]
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển}: Điều trị thực chứng việc cần thiết là trừ khứ bệnh tà, điều trị hư chứng th́ nuôi dưỡng chính khí là cấp thiết. Khi chính khí không kiên cố vững vàng, th́ không thể chế ngự bệnh tà mà đẩy lùi bệnh tật, v́ thế tuy thân thể đau nhức mà vẫn phải khẩn cấp cứu lư, không trừ khứ bệnh tà ngoài biểu, tất sẽ nhập lư gây hoạ, v́ thế khi đại tiện điều hoà, vẫn cần phải cứu biểu.
15. 夫病痼疾,加以卒病,当先治其病,后乃治其痼疾也。
15. Phu bệnh cố tật, gia dĩ thốt bệnh, đương tiện trị kỳ bệnh, hậu năi trị cố tật dă.
【Giải thích】
Bài viết này thảo luận về bệnh đă lâu và bệnh mới mắc đồng thời tồn tại, nguyên tắc của trường hợp này là ưu tiên điều trị bệnh mới. V́ bệnh đă lâu là bệnh khó chữa. Bệnh t́nh tuy đă hoà hoăn, nhưng rất khó điều trị khỏi bệnh, việc điều trị tận gốc lại càng khó hơn, nên không thể điều trị khẩn cấp, thốt bệnh là bệnh mới, thế bệnh tuy cấp bách, nhiều biến hoá, nhưng dễ trị khỏi bệnh, v́ thế nên điều trị bệnh mới trước chính là lựa chọn tốt nhất.
[Ghi chú tuyển chọn]
{Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú}: “Bệnh măn tính có nghĩa là bệnh trầm trọng, không thể chữa khỏi trong một sớm một chiều. Thốt bệnh là đột nhiên bị bệnh, nhưng có thể chữa khỏi trong thời gian rất ngắn. Nếu bệnh tà xâm nhập không sâu, th́ bệnh tà có thể trừ khử nhanh chóng, không lưu lại để gây hậu hoạn. C̣n người mắc cố tật th́ chính khí hư yếu, bệnh tà dễ truyền biến, nếu như chiếu cố quá nhiều (điều trị đồng thời bệnh mới và bệnh cũ), có thể khiến bệnh cũ và bệnh mới tương hợp tạo thành hoạ hoạn không nhỏ. V́ thế Trương Trọng Cảnh cảnh báo cho hậu học biết để xử lư trước sau cho đúng mực.
16. 师曰:五脏病各有得者愈;五脏病各有所恶,各随其所不喜者为病。病 者素不应食,而反暴思之,必发热也。
16. Sư viết: Ngũ tạng bệnh các hữu đắc giả dũ; Ngũ tạng bệnh các hữu sở ố, các tuỳ kỳ sở bất hỉ giả vi bệnh. Bệnh giả tố bất ứng thực, nhi phản bạo tư chi, tất phát nhiệt dă.
Giải thích từ
Hữu đắc (有得): Là khi ngũ tạng có được khí, vị, thời gian thích hợp th́ khí của nội tạng mới được hỗ trợ để trừ khứ bệnh tật.
Sở ố (所恶) là ghét: Ám chỉ sự ác cảm của năm cơ quan nội tạng. Chẳng hạn như tim ghét nóng, phổi ghét lạnh, gan ghét gió, lá lách ghét ẩm ướt và thận ghét khô.
Sở bất hỉ (所不喜)là không thích: Là ám chỉ sự cấm đoán của ngũ tạng, ví dụ như bệnh tim th́ cấm ăn đồ ấm, cấm mặc nóng, bệnh lá lách th́ cấm ăn đồ ấm, cấm mặc quần áo ướt, bệnh phổi th́ cấm uống đồ lạnh, thân thể bị lạnh; Đối với bệnh thận, không nên ăn thực phẩm nóng, không ôn cứu.
{Giải thích}
Bài viết này thảo luận về các nguyên tắc điều dưỡng. Bản chất các bệnh của ngũ tạng là khác nhau nên chế độ ăn uống, sinh hoạt thích nghi với bệnh cũng khác biệt. Những ǵ bệnh nhân thích, ghét và không thích sẽ khác nhau tùy theo tính chất của bệnh. Nếu người bệnh tỳ vị hư hàn th́ chế độ ăn thích hợp cho người bệnh là ăn nóng, nấu chín, dễ tiêu, ở nơi ấm áp, uống thuốc có tác dụng ôn bổ tỳ vị th́ tỳ vị hư hàn có nhiều khả năng được điều trị khỏi bệnh. Ngược lại, nếu cho người bệnh ăn thực phẩm sống lạnh, khó tiêu, ở nơi lạnh ẩm, uống thuốc có vị đắng, lạnh, làm tổn thương vị khí th́ bệnh sẽ diễn biến bất thường, thầy thuốc phải đặc biệt lưu ư. Nếu người bệnh b́nh thường chán ăn mà đột nhiên nảy sinh ư nghĩ rất thèm ăn là do khí của bệnh tà khiến tạng khí thay đổi, v́ thế trong trường hợp này ăn là hỗ trợ bệnh khí mà tăng phát nhiệt.
{Tuyển chú}
{Kim Quỹ yếu lược phương luận bản nghĩa} Bệnh của ngũ tạng có những sở đắc riêng (yếu tố thích hợp riêng), kết hợp với với những yếu tố thích hợp th́ có thể hỗ trợ chính khí mà hạn chế tà khí, từ đó có thể nhanh chóng khỏi bệnh, bệnh ngũ tạng cũng có những sở ố riêng (yếu tố không thích hợp), tuỳ theo các yếu tố không thích hợp mà thành bệnh, kết hợp với những yếu tố không thích hợp sẽ gây tổn thương chính khí và hỗ trợ bệnh tà khiến bệnh tăng nặng. Bản chất của căn bệnh này cũng được quyết định bởi tính khí của con người, tính khí của con người đều có những sở thích riêng, điều này đúng với mọi thứ, với thực phẩm lại càng dễ phân biệt. Như người bệnh có tố chất chán ăn, không thèm ăn, mà khi mắc bệnh lại trở nên rất thèm ăn, chứng thèm ăn này là do đói khát và rất có hại cho bệnh nhân, v́ nếu ăn vào, nội tạng sẽ không thể thích nghi, ăn vào sẽ sinh ra nhiệt, điều này không có lợi cho khí huyết, và chỉ càng làm cho bệnh tật phát triển. Tóm lại, sở đắc th́ kết hợp, sở ố th́ nên tránh xa, đó chính là nguyên tắc của điều dưỡng.
17. 夫诸病在藏欲攻之,当随其所得而攻之,如渴者与猪苓汤,余皆仿此。
17.Phu chư bệnh tại tạng dục công chi, đương tuỳ kỳ sở đắc nhi công chi, như khát giả dữ Trư linh thang, dư giai phỏng thử.
{Từ giải}
Sở đắc: Chỉ về tà vô h́nh, nhập kết vào tạng tất có vật sở đắc (thâu tóm).
{Giải thích}
Đoạn văn này thuyết minh đạo lư tuỳ theo sở đắc mà dùng phép công hạ, bệnh tại tạng phủ, như thuỷ, huyết, đàm, thực phẩm là những thực chứng đều có thể dùng phép công hạ để trừ khứ, nhưng phải tuỳ theo bệnh tà kết hợp, như khát nước là thuỷ kết với nhiệt, mà nhiệt kết tại thuỷ, v́ vậy dùng thang Trư linh lợi thuỷ th́ nhiệt cũng được trừ.
{Tuyển chú}
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Bệnh tà vô h́nh, nhập kết vào tạng, tất có chỗ kết hợp với bệnh tà như : Thuỷ, huyết, đàm, thực (phẩm). Như khát là thuỷ bị nhiệt đắc (nhiệt thâu tóm) mà nhiệt lại kết tại thuỷ, v́ thế, dùng thang Trư linh lợi thuỷ th́ cũng trừ được nhiệt, nếu có thực (phẩm), thực bị nhiệt đắc (thâu tóm), mà nhiệt kết tại thực (phẩm), dùng thang Thừa khí, công hạ thực phẩm mà trừ nhiệt, nếu không sở đắc (bị thâu tóm) mà là bệnh tà vô h́nh th́ có thể dùng công pháp mà khứ được ư.
Lời kết
Thiên này thảo luận các nội dung như: Dự pḥng, Nguyên nhân, bệnh cơ (phát sinh, phát triển, kết cục), chẩn đoán và trị liệu bệnh tật. Lần đầu tiên đề xuất tư tưởng chiến lược trọng yếu, chính là “Trị vị bệnh” (治未病) là điều trị bệnh chưa xảy ra. Điểm then chốt của trị vị bệnh, chính là phải nắm vững quy luật tương truyền của bệnh tật. Nếu nắm vững được quy luật này, th́ có thể khống chế sự truyền biến của bệnh. Ngoài ra cũng cần phải nắm vững ba phương pháp điều trị hư chứng gồm: “Bổ” (补) bồi bổ, “Trợ” (助) hỗ trợ và “Điều” (调) điều hoà, và đại pháp trị bệnh là “Bổ bất túc, tổn hữu dư” (补不足,损有余), thêm vào chỗ không đủ, bỏ bớt chỗ dư thừa.
Kết luận khoa học của bài viết này là yếu tố cơ bản cấu thành nên sự sống là năm yếu tố bất biến và điều kiện để sự sống tồn tại là phong khí (không khí). V́ vậy, con người và thiên nhiên có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khí hậu bất thường có thể ảnh hưởng đến cơ thể con người và gây ra bệnh tật, mấu chốt là ở sự mạnh yếu của chính khí. Nếu ngũ tạng thật sự không bị chướng ngại th́ con người sẽ được b́nh an, bệnh tật sẽ không khống chế được. Về việc phân loại nguyên nhân c̣n có các phương diện như nội sinh, ngoại trúng và các phương diện khác.
Bài viết này cũng thảo luận về chẩn đoán bệnh, pḥng bệnh và nguyên tắc điều dưỡng.
Về phương diện điều trị, bài viết này đề xuất nguyên tắc điều trị ưu tiên trong các trường hợp như biểu lư đồng bệnh, bệnh cũ bệnh mới đồng thời tồn tại, nguyên tắc chính là ưu tiên trị bệnh mới, đến như tư tưởng biện chứng luận trị linh hoạt của “Tuỳ kỳ sở đắc nhi công chi” (随其所得而攻之) là điều trị theo mức độ thích hợp.
Mặc dù nội dung của chương này ngắn gọn nhưng đều là những lời nhắc nhở mang tính nguyên tắc, có ư nghĩa cương lĩnh trong toàn bộ cuốn sách.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 18:50:26 | 02 KINH THẤP YẾT BỆNH
Chương II Hội chứng mạch bệnh kinh thấp yết
Khái thuyết
Bài viết này thảo luận về biện chứng luận trị ba bệnh: Kinh, thấp, yết (Bệnh co giật, thấp và trúng nắng) trong chương có tổng cộng 27 điều và 11 bài. Các điều từ 1 đến 10 là tổng quan chung về chứng kính (chú thích ở cuối chương), giải thích nguyên nhân, bệnh lư, hội chứng mạch, phân loại, nguyên tắc điều trị và kết cục của bệnh. Điều 11, 12 và 13 là các chuyên luận về chứng kính (co cứng), tŕnh bày chi tiết về biện chứng luận trị bệnh. Điều 14 đến 19 là tổng luận về bệnh thấp, giải thích nguyên nhân, bệnh lư, triệu chứng của bệnh thấp cũng như nguyên tắc điều trị và kết cục; Điều 20 đến 24 là các chuyên luận về bệnh thấp, biện chứng luận trị bệnh thấp được tiến hành tŕnh bày chi tiết. Các điều 25, 26 và 27 mô tả hội chứng mạch, nguyên tắc điều trị và đơn thuốc của bệnh trúng thử (yết). V́ ba bệnh co thắt, thấp và trúng thử đều do cảm thụ phong, hàn, thấp, thử (nắng) và có liên quan đến Thái dương biểu chứng nên chúng được thảo luận chung trong một chương.
Bệnh kính gồm các bệnh chứng chủ yếu như co cứng lưng gáy, cấm khẩu, thậm chí giác cung phản trương (người cong như cây cung kéo ngược), bệnh thấp là khớp xương không thuận lợi, thân thể sưng đau là bệnh chứng chủ yếu, bệnh yết lại có tên là thương thử (tổn thương do nắng), bệnh chứng chủ yếu là phát sốt sợ lạnh, khát nước và thân thể đau nhức.
太阳病,发热无汗,反恶寒者,名曰刚痓一作痉,余同。
1/ Thái dương bệnh, phát nhiệt vô hăn, phản ố hàn giả, danh viết cương xí nhất tác kính, dư đồng.
{Giải thích}
Điều văn này thảo luận về biện chứng của chứng “Cương kính” (刚痉). “Cương kính” là do thái dương trúng phong lại thêm cảm hàn, hàn ở bên ngoài gây bế tắc doanh vệ, v́ thế xuất hiện hội chứng ghét lạnh, không có mồ hôi, đau đầu, phát sốt, mạch phù mà khẩn, bệnh tà phong hàn trệ uất trong kinh mạch làm cho khí huyết của kinh mạch bất lợi, xuất hiện các chứng như co cứng lưng gáy, cấm khẩu là biểu hiện của kinh mạch khẩn cấp. V́ không có mồ hôi nên gọi là chứng “Cương kính” (刚痉).
{Tuyển chú} Chú giải tuyển chọn
[Chú giải Thương hàn luận] {Thiên kim} viết: Thái dương trúng phong, cảm thêm hàn thấp th́ biến thành chứng kính (痉), bệnh ở kinh Thái dương phát sốt không có mồ hôi là chứng biểu thực, đang không ghét lạnh, nay lại ghét lạnh là thái dương trúng phong lại cảm thêm hàn, gọi là bệnh kính. Với chứng biểu thực cảm hàn, có tên là Cương kính.
2/太阳病,发热汗出,而不恶寒,名曰柔痓。
2/ Thái dương bệnh, phát nhiệt hăn xuất, nhi bất ố hàn, danh viết nhu kính.
{Giải thích}
Đoạn văn này thảo luận về biện chứng của nhu kính. “Nhu kính” (柔痉) do thái dương trúng phong, phong tà hoá nhiệt, nhiệt tổn thương huyết mạch, v́ thế cân không được nuôi dưỡng, v́ thế cổ gáy bị co cứng, trường hợp nặng th́ cong ngược lên. Thái dương trúng phong, vệ cường vinh nhược (vệ mạnh vinh yếu), chính tà tương tranh, khí ở ngoài không kiên cố, xuất hiện các chứng như phát sốt, xuất mồ hôi, đau đầu, mà không sợ lạnh, mạch phù hoăn. Phân biệt hai loại cương, nhu, “Cương” là chứng biểu thực không có mồ hôi, “Nhu”là chứng biểu hư có mồ hôi. Ngoại cảm phong hàn gây ra bệnh kính, một mặt là phong hàn tà khí khách (ở chung mà không hoà hợp th́ gọi là khách) vào kinh mạch thái dương, một mặt khác là tố chất âm huyết hư thiếu, sau khi cảm thụ ngoại tà dễ hoá táo gây tổn thương âm, âm huyết không nhu (thấm ướt), gân mạch bị co rút mà thành bệnh kính.
【Tuyển chú】
[Chú giải Thương hàn luận] Bệnh ở kinh Thái dương, phát sốt xuất mồ hôi là chứng biểu hư, th́ ghét lạnh, nếu không ghét lạnh là bệnh ở kinh dương minh. Nay phát sốt xuất mồ hôi mà không ghét lạnh, không thuộc dương minh chứng th́ chính là Thái dương trúng phong, lại thêm cảm thấp, là chứng nhu kính. Biểu hư mà cảm thấp, gọi là chứng nhu kính.
3/ 太阳病,发热脉沉而细者,名曰痓,为难治。
3/ Thái dương bệnh, phát nhiệt, mạch trầm nhi tế giả, danh viết chí, vi nan trị.
{Giải thích}
Bài viết này thảo luận về tiên lượng của bệnh co thắt. Bệnh Thái Dương là biểu chứng, biểu chứng th́ phát sốt. Nếu mạch phù, là ứng với bệnh. Mạch bây giờ trầm và tế, là hội chứng của kinh Thái dương mà mạch lại của kinh Thái âm, chính là mạch Thiếu Âm do hội chứng Thái Dương. Lúc này nếu thấy hội chứng cứng khớp gáy và lưng th́ gọi là kính (co gân). Bởi chính khí hư yếu không thể thắng được bệnh tà nên bệnh khó chữa. Tại sao? Chứng này nếu phát tán tà khí ở biểu, th́ có thể gây tổn thương cho tinh huyết của kinh Thiếu âm, c̣n nếu bồi bổ cho hư yếu của tinh huyết, th́ lại e ngại sẽ lưu giữ tà khí ở biểu của kinh Thái dương.
{Tuyển chú}
[Y môn Bổng hát Thương hàn luận bản chỉ] Kinh Thái dương cảm thụ phong hàn, mạch phù là tà khí nông tại doanh vệ. Bệnh kính (co gân) bệnh tà nhập sâu và tổn thương cân, nên mạch trầm khẩn huyền, thẳng lên trên và đi xuống dưới; Nhưng mạch không trầm huyền mà lại trầm tế, là bệnh tà nhập sâu kèm theo khí huyết đại hư, nên chính không thắng tà, tà không thể xuất ra ngoài, nên là bệnh khó trị.
4/太阳病,发汗太多,因致痓。
4/ Thái dương bệnh, phát hăn thái đa, nhân chí xí.
{Giải thích}
Đoạn văn thảo luận việc dùng phép phát hăn nhầm mà thành chứng kính (co gân), Bệnh ở kinh Thái dương thuộc biểu chứng, nên phát hăn giải biểu, và chỉ cần tựa như xuất mồ hôi nhẹ nhàng là đúng phép. Nếu bệnh ở kinh Thái dương mà xuất mồ hôi quá nhiều th́ sẽ tổn háo chân âm, âm huyết hư tổn trước tiên, không thể nhu dưỡng cân mạch, th́ có thể phát sinh bệnh kính co thắt cứng lưng.
{Tuyển chú}
[Y Tôn Kim Giám] Bệnh ở kinh Thái dương nên phát hăn, nhưng nếu phát hăn quá nhiều, khe thớ thịt mở rộng, khí ở biểu không kiên cố, phong tà thừa cơ hội xâm nhập mà thành bệnh kính (co gân), là do bên trong hư tổn mà bệnh tà xâm nhập, nên dùng thang Quế chi gia Phụ tử có tác dụng cố biểu ôn kinh chủ trị bệnh này. Từ đó suy ra, bệnh nhân mới sinh xuất hăn quá nhiều, hoặc mất máu quá nhiều do đao kiếm mà biến thành chứng này, cũng đều cùng loại.
5/夫风病下之则痓,复发汗必拘急。
5/ Phu phong bệnh hạ chi tắc kính, phục phát hăn tất câu cấp.
{Giải thích}
Điều văn này thảo luận về dùng phép hạ nhầm tạo thành bệnh kính (co gân). Do ngoại cảm phong tà, nhập lư hoá nhiệt, nhiệt gây xuất hăn, tổn thương tân dịch, lại hạ nhầm gây tổn thương âm, doanh huyết càng yếu nhược, không thể nuôi dưỡng cân mạch, nên khiến cân mạch co quắp, h́nh thành bệnh kính. Lại phát hăn, càng làm tổn thương khí âm dương, âm dương lưỡng hư, càng không thể ôn nhuận, dẫn đến cân mạch tứ chi co cứng mà thành bệnh kính (co rút, vọp bẻ).
[Tuyển chú]
[Y Tôn Kim Giám]: V́ phong tà gây bệnh, không nên công hạ mà dùng phép công hạ nên tổn thương tân dịch, không nên hăn mà phát hăn nên tân dịch cũng tổn thương, dẫn đến tân dịch khô háo, cân mạch không được nuôi dưỡng mà thành bệnh kính, nên viêt: Phong bệnh mà hạ tất thành bệnh kính, lại phát hăn tất sẽ co rút. Như vậy không thể điều trị bệnh ngoại cảm bằng những trị pháp trên, nhiệm vụ chính là phải nuôi dưỡng tân dịch.
6/ 疮家虽身疼痛,不可发汗,汗出则痓。
6/ Sang gia tuy thân đông thống, bất khả phát hăn, hăn xuất tắc kính.
{Giải thích}
Bài viết thảo luận bệnh nhân bị bệnh mụn nhọn đă lâu, khí huyết đă bị tổn thương, do phát hăn nhầm mà tạo thành bệnh kính (co gân). Bệnh nhân bị bệnh mụn nhọt, tuy có biểu chứng cũng không thể phát hăn giải biểu, v́ người bệnh mụn nhọn lâu ngày th́ tân dịch và huyết đă bị hư tổn, lúc này dù có biểu chứng là thân thể đau nhức, là thương hàn kèm theo hư yếu, v́ thế không thể phát hăn. Nếu phát hăn giải biểu, th́ tân dịch bị tổn thương nặng nề, cân mạch sẽ không được tân dịch và huyết nuôi dưỡng, v́ thế mà phát sinh bệnh kính (co rút)
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Bệnh mụn nhọt khi sơ phát, nhiệt độc chưa thành, nên dùng phép phát hăn. Khi mụn nhọt đă vỡ, là khí huyết đă bị tổn hại, tuy có biểu chứng là thân thể đau nhức cũng không thể phát hăn, sợ rằng hăn xuất th́ tân dịch và huyết càng thêm khô kiệt, không thể nuôi dưỡng cân mà thành bệnh kính, hoặc phong tà thừa cơ, cũng gây thành kính bệnh.
7/ 病者,身热足寒,颈项强急,恶寒,时头热,面赤目赤,独头动摇, 卒口噤,背反张者, 痓病也。若发其汗者,寒湿相得,其表益虚,即恶寒甚。
7/ Bệnh giả, thân nhiệt túc hàn, cảnh hạng cường cấp, ố hàn, thời đầu nhiệt, diện xích mục xích, độc đầu động dao, thốt khẩu cấm, bối phản trương giả, chí bệnh dă. Nhược phát kỳ hăn giả, hàn thấp tương đắc, kỳ biểu ích hư, tức ố hàn thậm.
{Giải thích}
Bài văn thảo luận chứng trạng chủ yếu của bệnh kính và phản ảnh mạch chứng sau khi phát hăn. Bệnh kính không tách rời biểu, nên thân nhiệt sợ lạnh. Bệnh kính (co rút) là do cường phong gây ra. ảnh hưởng đến cân mạch nên cấm khẩu, đầu gáy cứng, lưng cong lên và cân mạch co rút. {Nội Kinh} viết: “Chư bạo cường trực, giai thuộc vu phong” (诸暴强直皆属于风) các chứng tê cứng đều thuộc về phong, v́ thế đầu nóng, chân lạnh, mặt mắt đỏ, đầu dao động không ổn định, là những hội chứng của bệnh này, không thể không biết. Nếu phát hăn chứng này, mồ hôi ướt áo và biến thành thấp, lại cấu kết với khí lạnh bên ngoài, th́ vệ dương lại càng hư tổn, hàn tà được thấp nên hàn tăng mạnh, v́ thế cảm giác sợ lạnh lại thêm tệ hại.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Trực Giải] Thân nhiệt đầu nhiệt, là bệnh tà ở kinh Thái dương, mặt đỏ mắt đỏ là bệnh tà ở kinh dương minh. Cổ thuộc dương minh, gáy thuộc Thái dương, bệnh tà tại hai kinh, th́ cổ gáy co cứng sợ lạnh, mạch dương minh chạy lên miệng, v́ thế đột nhiên cấm khẩu, mạch thái dương tuần hành từ lưng lên đầu, v́ thế đầu dao động không ổn định, lưng uống cong. Người này sau khi xuất hăn và vong huyết, chính khí đă hư yếu, nhưng tà khí thắng ở trên, mà chân th́ lạnh, đây đều là hội chứng của bệnh kính (co rút).
8.发其汗已,其脉如蛇一云:其脉浛浛,暴腹胀大者,为欲解,脉如故;反伏弦者痓..。
{Giải thích}
Đoạn văn này nối tiếp đoạn văn bên trên, mạch vốn thẳng, sau khi phát hăn th́ phong được giải trừ mà thấp vẫn c̣n, v́ thế mạch không thẳng mà cong queo như rắn ḅ. Nguỵ Lệ Đông viết: Phong đă khứ không dính bám với thấp, th́ thấp tà không c̣n nơi nương dựa, tất sẽ thuận theo tính hạ truỵ (nặng trĩu) của nó nhập xuống dưới mà gây trướng bụng. Phong hàn giải ra ngoài, mà thấp th́ hạ hành (đi xuống), cho nên đây cũng là một cách giải trừ bệnh. Nếu phán đoán theo cách này th́ mạch tất phù mà không trầm, hoăn mà không huyền. Nếu mạch vẫn như cũ mà lại thêm phục huyền th́ cho thấy bệnh tà có liên quan đến kinh Thái âm, bệnh bên trong chuyển biến nặng hơn và bệnh ở biểu không được giải trừ, và đây là một biến chứng trong các hội chứng của bệnh kính
{Tuyển chú}
[Y tông Kim Giám] Sau khi phát hăn chứng hàn thấp, mạch không khẩn mà cong queo chậm như rắn ḅ, là bệnh tà đă thoái lui không thành bệnh kính, là biểu hiện có thể khỏi bệnh, nếu mạch vẫn khẩn không hoà hoăn hoặc mạch không khẩn nhưng mạch khẩn cấp tái đi tái lại là biểu hiện của bệnh tà không thoái lui mà thành bệnh kính.
9/ 夫痓脉,按之紧如弦,直上下行一作:筑筑而弦。《脉经》云: 痉家其脉伏坚,直上下。
9/ Phu xí mạch, án chi khẩn như huyền, trực thượng hạ hành nhất tác: Trúc trúc nhi huyền. {Mạch kinh} Kính gia kỳ mạch phục kiên, trực thượng hạ.
{Giải thích}
Điều văn này thảo luận chủ mạch của bệnh kính, bệnh kính là do cảm thụ nặng phong hàn thấp tà, tà khí bó ở ngoài, cân mạch tê cứng, co duỗi không tự nhiên, khí huyết từ bên trong hướng ra ngoài để có lực đề kháng bệnh, v́ thế xuất hiện mạch huyền khẩn ḱnh cấp, là mạch cứng và nhanh, thẳng lên trên và xuống dưới.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Khẩn như huyền, là h́nh tượng của cứng thẳng. Lư thị viết: Thượng hạ hành, tự thốn chí xích, đều thấy mạch khẩn trực.{Mạch kinh} cũng viết: Bệnh kính mạch kiên phục, trực thượng hạ hành (tự thốn xuống xich)
10/ 痓病有灸疮,难治。
10/ xí bệnh hữu cứu sang nan trị.
{Giải thích} Đoạn văn thảo luận tật bệnh với t́nh huống tiên lượng là bệnh nhân bị lở loét sau khi cứu. Bệnh nhân sau khi cứu tạo thành vết loét, một là chảy mủ, là biểu hiện của tân dịch và huyết bị hao tổn, hai là nội nhiệt quá mạnh, huyệt của kinh mạch không đóng, lại thêm cảm thụ phong hàn mà tạo thành bệnh kính, bệnh này nếu dùng phép phát hăn giải biểu, th́ e rằng nhiệt sẽ tổn thương âm huyết và càng hỗ trợ phong táo nặng hơn, c̣n nếu dùng phép tả hạ thực nhiệt, lại nghĩ đến tổn thương âm dịch, hai phép hăn hạ đều không thể sử dụng, v́ thế gọi là nan trị.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]: Vết loét do cứu, máu mủ lâu ngày, du huyệt không đóng. Lâu Toàn Thiện nói: “Tức phá thương phong chi ư” (即破伤风之意)Có ư nói đến chứng phá thương phong, âm bị tổn thương nên không thắng phong nhiệt, dương bị tổn thương nên không chịu được công phạt. V́ thế viết là nan trị.
11/ 太阳病,其证备,身体强,几几然,脉反沉迟,此为痓。栝楼桂枝汤主之。
11/ Thái dương bệnh, kỳ chứng bị, thân thể cường, ki ki nhiên, mạch phản trầm tŕ, thử vi… Qua lâu Quế chi thang chủ chi.
Phương thang Qua lâu quế chi
Qua lâu căn 2 lạng Quế chi 3 lạng Thược dược 3 lạng Cam thảo 2 lạng Sinh khương 3 lạng Đại táo 12 quả
6 vị trên, dùng 9 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, chia 3 lần uống lúc thuốc ấm cho xuất ít mồ hôi. Nếu không xuất hăn có thể ăn thêm một ít cháo nóng.
[Từ giải]
Ki ki nhiên (儿ㄦ然): Cổ lưng bị cứng, co cứng khó cử động.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị kính bệnh. Thái dương bệnh, đầy đủ hội chứng, là chỉ về mạch của kinh Thái dương, từ chân đi lên, theo lưng lên đỉnh đầu, phàm những nơi kinh mạch đi qua đều bị co rút căng cứng mà thành bệnh kính. Nếu phong tà ở biểu th́ mạch tất sẽ phù sác. Chứng này tuy thân thể mạnh mẽ nhưng mạch lại trầm tŕ, mạch trầm tŕ là tân dịch không đầy đủ và vinh vệ không thuận lợi, cân mạch không được nuôi dưỡng tưới nhuần, chính là yếu tố tạo thành bệnh kính.
Dùng thang Qua lâu quế chi. Trong phương có Qua lâu căn thanh nhiệt sinh tân, nhu nhuận kinh mạch, thông hành kinh khí; Quế chi lợi vệ thông dương, Thược dược hoà doanh liễm âm; Cam thảo, Sinh khương, Đại táo có khả năng kiện tỳ ích khí, hoà doanh vệ, khiến khí của kinh mạch thông sướng, cân mạch khô khan được tưới nhuần mà bệnh kính tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Mạch trầm là mạch của bệnh kính, mạch tŕ không phải do bên trong lạnh, mà do thiếu tân dịch mà vận hành doanh vệ (nuôi dưỡng và bảo vệ cơ thể) không thuận lợi. Thương hàn cứng cổ lưng vận động không tự nhiên, mạch trầm tŕ là phong hàn ở ngoài mà tân dịch ở trong bị tổn hại, v́ vậy dùng Quế chi th́ tương đồng, mà gia Cát căn th́ hỗ trợ tán tà, mà gia Qua lâu căn để tư bổ bên trong th́ có khác biệt.
12/ 太阳病,无汗,而小便反少,气上冲胸,口噤不得语,欲作刚痓,葛根 汤主之。
12/ Thái dương bệnh, vô hăn, nhi tiểu tiện phản thiểu, khí thượng xung hung, khẩu cấm bất đắc ngữ, dục tác cương xí, Cát căn thang chủ chi.
Phương thang Cát căn
Cát căn 4 lạng, Ma hoàng 3 lạng bỏ đốt, Quế 2 lạng, bỏ vỏ, Thược dược 2 lạng, Cam thảo 2 lạng nướng, Sinh khương 3 lạng, Đại táo 12 quả.
7 vị thuốc trên, giă nát, dùng 1 đấu nước, đầu tiên nấu Ma hoàng và Cát căn cạn xuống 2 thăng, vớt bọt, cho hết thuốc c̣n lại vào, nấu c̣n lại 3 thăng, bỏ băn, uống ấm 1 thăng để xuất chút mồ hôi, không cần ăn cháo. C̣n lại việc điều dưỡng và cấm kỵ giống như thang Quế chi.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng cương kính. Cương kính là cảm nặng phong hàn thấp, vệ dương bị bế uất, doanh âm uất trệ, chính tà giao tranh, nên xuất hiện các chứng trạng như phát nhiệt, ghét lạnh, không có mồ hôi, đau đầu, đau người, mạch phù khẩn. Thái dương bệnh không xuất hăn, thấp tà bế uất trong ngực, khí cơ không thông lợi, v́ thế tiểu tiện lại giảm thiểu. Khí bên trong không thông đạt ra bên ngoài, lại không thể xuống dưới, tất sẽ nghịch lên ngực, nên tức ngực. Thấp nhiệt bế uất trong ngực gây tổn thương tân dịch không thể tư nhuận cân mạch, khiến bệnh nhân cấm khẩu không thể nói năng. Như thế th́ có thể biết chứng cương kính đă bắt đầu phát tác.
Điều trị dùng thang Cát căn để khai tiết thấu lư, phát hăn khứ tà, nuôi dưỡng tân dịch, thư giăn kinh mạch. Vị Cát căn trong phương thang có tác dụng thấu đạt biểu tà, khai thông vị khí mà sinh tân dịch, tư nhuận cân mạch, thư giăn co cứng, Ma hoàng phối Quế chi Sinh khương tán phong hàn bên ngoài, khai mở huyền phủ (lỗ chân lông) bị bế tắc, Thược dược, Cam thảo, Đại táo hoà doanh sinh tân dịch để thư giăn co cứng.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]: : “Nếu không có mồ hôi mà đi tiểu ít, phong hàn thấp rất mạnh, khí cầm giữ với nó, không thể thông đạt ra ngoài hay đi xuống và sẽ thượng xung lên ngực khiến ngực trướng đầy, cấm khẩu thất ngữ, bệnh nhân dần dần mặt đỏ đầu lắc lư, cứng lưng gáy, không cần phải nói cũng biết đây là biểu hiện chứng cương kính
bắt đầu phát tác. Thang Cát căn, thang Quế chi gia Ma hoàng, Cát căn là phương thang chính xác để điều trị chứng cương kính mà không xuất mồ hôi.
[Bệnh án]
Họ Trương x, 13 tuổi. Khám bệnh lần 1 ngày 13/9/ 1977: Lúc đầu thỉnh thoảng có triệu chứng ngoại cảm, cơ thể khó chịu, hai ngày sau đột nhiên lên cơn co giật, cấm khẩu, sau đó cảm thấy gáy và lưng cứng đờ, giác cung phản trương (Cơ thể như cây cung kéo ngược), không ra mồ hôi, đầu óc minh mẫn, có ư thức khó thở, mệt mỏi và thân thể nặng nề đau nhức. Kiểm tra: Thân nhiệt 37.5 °C huyết áp : 110/70mm thuỷ ngân, phản xạ sinh lư b́nh thường, không có phản xạ bệnh lư. Hoá nghiệm huyết tượng: Bạch tế bào 15200/mm3. Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch khẩn sác. Chẩn đoán: Chứng Cương kính, do phong hàn ủng trở mạch lạc, nên cân mạch co rút, cứng lưng gáy, điều trị nên khứ phong tán hàn giải cơ hoà doanh.
Xử phương: Cát căn 1g, Ma hoàng 3g, Quế chi 5g, Bạch thược 12g, Thiên hoa phấn 12g, Cam thảo 3g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 4 quả bổ uống chiêu Giải kính tán 3g (Toàn yết, Ngô công lượng bằng nhau, tán thành bột mỗi lần uống từ 1.5~3g, để xuất hăn.
Phúc chẩn: Uống 1 thang, toàn thân xuất hăn nhẹ, chứng co cứng hết, uống thêm 1 thang th́ khỏi bệnh.
痉为病一本痉字上有刚字,胸满口噤,卧不着席,脚挛急,必𬹼齿,可与大承气汤。
13/ Kính vi bệnh nhất bản kính tự thượng hữu cương tự, hung măn khẩu cấm, ngoạ bất trứ tịch, cước luyên cấp, tất giới xỉ, khả dữ đại thừa khí thang.
Phương thang Đại thừa khí
Đại hoàng 4 lạng (rửa rượu), Hậu phác ½ cân (nướng), Chỉ thực 5 quả, nướng Mang tiêu 2 hợp.
Bốn vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, nấu trước 2 vị c̣n lại 5 thăng, bỏ bă, cho vị Đại hoàng vào nấu c̣n 2 thăng; Bỏ bă, cho vị Mang tiêu vào đun sôi nhẹ 1,2 chập, phân 2 lần uống, tả hạ được th́ ngưng uống.
Giới xỉ (𬹼齿) 𬹼 âm là giới, cắn răng, tục gọi là nghiến răng.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị của chứng kính thực nhiệt. Do thực nhiệt tích trệ trong vị tràng quá nhiều nên gây nghẽn tắc, cho nên ngực bụng đầy trướng, táo nhiệt nung đốt tân dịch, không thể nhu dưỡng cân mạch, cân mạch co cứng, v́ thế thân thể bệnh nhân như cây cung kéo ngược “giác cung phản trương” (角弓反张), nằm không chạm chiếu, tứ chi co quắp, dương minh nhiệt thịnh (quá nóng), biến táo thành phong, cân mạch bị co thắt nên bệnh nhân cấm khẩu nghiến răng.
Chứng này là bệnh kính thực nhiệt, có thể dùng thang Đại thừa khí, nhanh chóng công hạ để tồn giữ âm, khai thông phủ tràng để tiết nhiệt. Trong phương có Đại hoàng, Mang tiêu có tác dụng bài tiết thực nhiệt, Chỉ thực, Hậu phác để phá trừ nghẽn tắc. Phương thang này tả hạ mạnh mẽ thực nhiệt tích trệ ở tràng vị, nên âm có thể nhanh chóng khôi phục mà tân dịch cũng được bảo tồn, và chứng cường kính có thể hoăn giải.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Tŕnh bày bệnh kính nhập lư để t́m hiểu rơ phương pháp điều trị bệnh, kính bệnh gây tức ngực khó thở là do khí ủng trệ (nghẽn tắc); Bệnh nhân nằm không chạm chiếu là biểu hiện của chứng trạng giác cung phản trương (thân thể như cây cung kéo ngược) chân co quắp rất nhanh và nghiêm trọng, răng cắn chặt, nghiến răng. Tất cả đều do kinh dương minh quá nóng hun đốt cân mạch, và là hiện tượng co rút nghiêm trọng của cân mạch, việc sử dụng thang Đại thừa khí là trực tiếp công hạ nhiệt mà không phải thực sự công hạ vào dương minh, viết là khả dữ (可与) (có thể với..) mà không viết một cách chắc chắn là có hàm ư cảnh báo chúng ta nên thận trọng khi sử dụng thang thuốc này.
[Bệnh án]
Một bệnh nhi phá thương phong (uốn ván) đă bốn ngày và đă được điều trị bằng thuốc Khu phong, loại thuốc có tác dụng trừ phong, giảm co thắt nhưng không hiệu quả nên chúng tôi được mời đến hội chẩn. Với các chứng trạng chủ yếu như: Sốt kéo dài, táo bón, co thắt dai dẳng, lưỡi khô rêu vàng, mạch sác thực. Kết luận là hội chứng nhiệt kết ở Dương Minh, nhiệt cực sinh phong, nên dùng phép công hạ. Sử dụng thang Đại thừa khí: 15 gam Đại hoàng (hậu hạ), 12 gam Mang tiêu (xung), 24 gam Hậu phác và 12 gam Chỉ thực. Người bệnh được chẩn đoán lại vào ngày hôm sau và các triệu chứng của cậu ta không giảm. Với hai vị thuốc Mang tiêu, Đại Hoàng là những vị thuốc có tác dụng rất nhanh chóng, v́ sao bệnh nhân lại chưa tả hạ? Chúng tôi thực sự bối rối! Khi hỏi bệnh nhân kỹ mới biết, bệnh nhân sợ phương thuốc quá mạnh nên chia làm đôi trước khi sắc uống. Bởi v́ bệnh nặng mà thuốc nhẹ, uống xong đại tiện vẫn táo bón như cũ, như thế là do phong nhiệt quá mạnh, táo bón cứng như đá, phải có sức mạnh của thuốc tương xứng mới có thể thu được hiệu quả. Sau đó chúng tôi lấy thuốc thêm vào, sau khi uống thuốc được 4,5 giờ bệnh nhân thải ra phân cứng như đá, màu đen to như trứng gà, kế là những chất bẩn, bụng bệnh nhân bé hẳn lại, sau đó uống thêm một thang nữa, đi tả ba lần, bệnh nhân ngưng co giật, cơ thể mát mẻ và khỏi bệnh. Kế tiếp chúng tôi cho bệnh nhân dùng thuốc dưỡng huyết thư can để điều lư và củng cố sức khoẻ.
(Trích từ “Tân Y học” 6:47, 1980)
14.太阳病,关节疼痛而烦,脉沉而细一作缓者,此名湿痹《玉函》云:中湿。湿痹之候,小便不利,大便反快,但当利其小便。
14/ Thái dương bệnh, quan tiết đông thống nhi phiền, mạch trầm nhi tế nhất tác hoăn giả, thử danh thấp tí {Ngọc Hàm} vân: Trúng thấp. Thấp tí chi hậu, tiểu tiện bất lợi, đại tiện phản khoái, đăn đương lợi kỳ tiểu tiện.
[Từ giải]
Đông thống nhi phiền, phiền, có ư là đau rất nặng.
{Giải thích}
Đoạn văn này thảo luận về hội chứng và nguyên tắc điều trị của chứng thấp tí, thấp tà gây tổn thương phần biểu (bên ngoài) của kinh Thái dương, gây đau đớn rất nhiều ở xương khớp toàn thân; Nếu mạch phù tế, là thấp ở bên ngoài, nên dùng phép phát hăn để giải trừ bệnh. Nếu bệnh nhân tiểu tiện bất lợi, mà đại tiện thoải mái, mạch lại trầm tế, bệnh này gọi là “Thấp tí” (湿痹), chứng thấp tí kỵ mồ hôi, nên dùng thuốc lợi tiểu tiện để trừ khứ thấp tà.
[Tuyển chú]
[Y Môn Pháp Luật] : “ Thấp xâm nhập vào khớp gây đau nhức, lại xuất hiện mạch trầm tế, là biểu hiện không cấu kết với ngoại phong, nên chỉ gọi là thấp tí. Chứng thấp tí khi xâm nhập là ở trong dương khí của cơ thể. Lợi tiểu th́ dương khí thông hành không c̣n trở ngại, và chứng tí của xương khớp đều được giải trừ.
15.湿家之为病,一身尽疼一云: 疼烦。发热,身色如熏黄也。
15/ Thấp gia chi vi bệnh, nhất thân tận đông nhất vân: Đông phiền, phát nhiệt, thân sắc như huân hoàng dă.
{Giải thích}
Điều văn này thảo luận về biện chứng của chứng thấp uất phát vàng. Bệnh của thấp gia (người bị bệnh thấp): Thấp nhiều ở ngoài, tất dương bị uất ở trong, thấp nhiều ở bên ngoài, th́ đau toàn thân, dương uất ở trong th́ phát sốt, thấp nhiệt uất ở cơ nhục, thân thể sẽ có màu như khói hun vàng mà ngả màu đen.
[Tuyển chú] Chú thích tuyển chọn
[Y Tông Kim Giám]: “Thấp gia là tên gọi chung những người bị bệnh thấp. Thấp gây bệnh, nếu do cảm thụ thấp khí ở bên ngoài, th́ đau khắp cả người, nếu do thấp sinh ở trong người, th́ phát sốt và thân thể có màu vàng. Nếu trong ngoài cùng bị bệnh, th́ đau toàn thân, phát sốt và thân thể có mảu vàng như bị hun đốt. Đau thân thể và có màu vàng của người bị bệnh thấp, th́ giống như chứng trạng đau người, thân thể có màu vàng của chứng thương hàn, nhưng không có h́nh và chứng của lục kinh.
湿家,其人但头汗出,背强欲得被复向火,若下之早则哕.或胸满,小便不利一云利,舌上如胎者,以丹田有热,胸上有寒,渴欲得饮而不能饮,则口燥烦也。
16/ Thấp gia, kỳ nhân đăn đầu hăn xuất, bối cường, dục đắc bị phục hướng hoả, nhược hạ chi tảo đắc uế. Hoặc hung măn, tiểu tiện bất lợi, nhất vân lợi, thiệt thượng như thai giả, dĩ đan điền hữu nhiệt, hung thượng hữu hàn, khát dục đắc ẩm nhi bất năng ẩm, tắc khẩu táo phiền dă.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày và phân tích biến chứng hạ nhầm của thấp gia, chứng trạng trên đầu xuất hăn của thấp gia là biểu hiện của bên trên có thấp mà bên dưới có nhiệt, tuy như thế, đây không phải là tỉ lệ chưng bốc vượt lên do thực nhiệt trong dương minh. Lưng bị cứng, là cứng của bệnh thấp, không phải chứng co cứng của phong hàn, bệnh nhân muốn đắp chăn hơ lửa là do thấp thịnh làm tổn thương dương khí, dương thụ thương nên ghét lạnh, chứng này nếu cho rằng đầu xuất hăn là do dương vượng nội nhiệt vượt lên gây ra mà hạ nhầm, khiến thấp sẽ hoá theo hàn, sau khi hoá hàn, nếu hàn tà nhập phế sẽ gây tức ngực, hàn tà nhập vào vị th́ gây nôn oẹ; Hàn tà nhập vào bàng quang th́ không thể khí hoá nên tiểu tiện không thuận lợi. C̣n xuất hiện rêu lưỡi trắng trơn, là do công hạ nhầm nên nhiệt hăm xuống dưới và hàn tụ ở trên. Trong ngực có hàn nên không muốn uống, bên dưới có nhiệt nên trong miệng bị khô, và là do tân dịch không chuyển hoá gây nên.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] : “Hàn thấp ở bên ngoài (biểu), dương khí không thể thông ra ngoài nhưng lại vượt lên trên, gây xuất hăn trên đầu, gây cứng lưng và muốn đắp mền hơ lửa, chính là nên loại trừ hàn thấp để thông dương, nhưng lại dùng phép công hạ, nên dương càng bị ức chế, mà gây ra nôn oẹ; Hoặc dương ở thượng tiêu không phân bố, mà gây tức ngực; Hoặc dương ở hạ tiêu không khí hoá nên tiểu tiện không thuận lợi, sẽ tuỳ theo nơi bị tổn thương mà tạo thành bệnh. Trên mặt lưỡi có rêu, không do vị nhiệt, mà do tân dịch khô tụ lại trên lưỡi như dạng lớp lót, thực chất không phải là lớp lót. Sau khi hạ dương khí lại hăm ở dưới, mà hàn thấp vẫn tụ ở trên, thế là đan điền có nhiệt mà khát, muốn uống nước, trên ngực bị lạnh lại không thể uống, khiến miệng bị khô mà tân dịch th́ tụ lại mà thôi.
湿家,下之,额上汗出,微喘,小便利一云不利者死;若下利不止者亦死。
17/ Thấp gia, hạ chi, ngạch thượng hăn xuất, vi suyễn, tiểu tiện lợi nhất vân bất lợi giả tử; Nhược hạ lợi bất chỉ diệc giả tử.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng hạ nhầm gây chết người của thấp gia, thấp gia hạ nhầm có hàng trăm biến chứng, nhưng biến chứng nặng mà lại gây chết người th́ người thày thuốc không thể không biết. Như thấp gia bệnh tà ở biểu th́ nên phát hăn, bệnh tà trong lư th́ nên lợi tiểu, nếu không phải thấp nhiệt tích tụ lại thành thực chứng, th́ không thể dùng. Nếu dùng nhầm là không có mục đích, đầu tiên là tổn thương chính khí, xuất mồ hôi trán và suyễn nhẹ; Là dương khí trọng thương, cô dương (dương đơn độc) vượt lên, nên xuất mồ hôi trán và phát suyễn nhẹ. Nếu tỳ dương đại thương (tổn thương nặng) thanh dương không thăng th́ tiết tả không ngừng, đó là hiện tượng âm dương ly quyết (phân ly quyết liệt) là tiên lượng không hề lạc quan. Nếu người bệnh tiểu tiện thuận lợi, mà thấy sau khi hạ xuất mồ hôi trán và phát suyễn, phản ảnh dương ly (chia ĺa) mà đi lên, âm cô (cô độc) mà đi xuống dưới, cũng đều là dấu hiệu của sự chết.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú Bổ Chính] Bản tóm tắt này cho rằng chứng thấp không có phép công hạ. Tiết trên nói về biến chứng của phép ngộ hạ, là hàn nhiệt uất kết, tiết đó cho rằng ngộ hạ gây tổn thương tạng thận khiến tiểu tiện tự lợi, khí suyễn mà chết. Ngộ hạ tổn thương tạng tỳ nên bệnh nhân tiết tả không ngừng mà chết. Xem xét phương thang của Trọng Cảnh, tất cả đều dùng phép bổ thổ để trị thấp, điều này cho thấy không hề có hạ pháp dùng cho thấp gia.
风湿相搏,一身尽疼痛,法当汗出而解,值天阴雨不止,医云:此可发 汗。汗之病不愈者,何也?盖发其汗,汗大出者,但风气去,湿气在,是故不愈 也。若治风湿者,发其汗,但微微似欲出汗者,风湿俱去也。
18/ Phong thấp tương bác, nhất thân tận đông thống, pháp đương hăn nhi bất giải, trực thiên âm vũ bất chỉ, y vân: Thử khả phát hăn. Hăn chi bệnh bất dũ giả, hà dă?Cái phát kỳ hăn, hăn đại xuất giả, đăn phong khí khứ, thấp khí tại, thị cố bất dũ dă. Nhược trị phong thấp giả, phát kỳ hăn, đăn vi vi tự dục xuất hăn giả, phong thấp câu khứ.
[Từ giải]
Tựa dục hăn xuất: Là xuất một chút mồ hôi.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày nguyên tắc điều trị bệnh phong thấp. Khi cơ thể cảm thụ phong thấp, phong thấp gây khốn đốn ở da thịt, sau đó phong thấp xâm nhập khớp, khiến khí huyết vận hành không thông suốt, gây đau nhức toàn thân. Chứng này dùng phương pháp phát hăn để giải tán bệnh tà phong thấp th́ có thể khỏi bệnh. Nhưng nếu gặp thời tiết âm u mưa gió không ngừng, là lúc trời đất có khá nhiều thấp khí, th́ phương pháp phát hăn không thu được hiệu quả, tại sao như vậy? V́ thời tiết mưa gió không ngừng, thấp khí trong trời đất và trong cơ thể đều nhiều. Phong thuộc dương tà nên dễ giải tán ở bên ngoài, mà thấp thuộc âm tà, khó giải trừ nhanh chóng, v́ thế khi dùng phép phát hăn th́ tuy phong khí bị giải trừ nhưng thấp tà th́ vẫn tồn tại, nên không khỏi bệnh. Để việc điều trị phong thấp thu được hiệu quả, nên dùng phép ôn dương giải biểu, khiến dương khí “thân triển” (伸展) trải dài, vươn dài, doanh vệ vận hành, nhẹ nhàng xuất một chút mồ hôi tựa như xuất hăn, tản mạn thấp tà niêm trệ hầu có thể chậm răi bài xuất thấp tà ra ngoài cơ thể.
[Tuyển chú]
[Y Môn Bổng Hát Thương hàn luận bản chỉ] “ Việc điều trị bệnh phong thấp, tất nhiên cần phải thông dương khí, điều doanh vệ, hoà kinh lạc, khiến khí âm dương biểu lư lưu thông khắp nơi, thấp ở trong sẽ theo tam tiêu khí hoá và khứ trừ theo tiểu tiện, thấp ở ngoài biểu sẽ lưu hành theo doanh vệ mà giải theo mồ hôi nhẹ nhàng, thấp tà đă được giải, phong tà c̣n chưa được trừ khứ, việc điều trị phong thấp và phong hàn có sự khác biệt, tuy hàn và thấp cùng thuộc âm, nhưng hàn th́ trong trẻo và nhẹ nhàng c̣n thấp th́ đục và nặng nề, trong nhẹ dễ tán, nặng đục th́ niêm trệ, v́ thế phép phát hăn ứng dụng điều trị phong hàn và phong thấp cũng có sự khác biệt đáng kể.
19.湿家病,身疼发热,面黄而喘,头痛鼻塞而烦,其脉大,自能饮食,腹中和无病,病在头中寒湿,故鼻塞,内药鼻中则愈《脉经》云:病人喘。而无“湿家病”以 下至“而喘”十三字。
19/ Thấp gia bệnh, thân đông phát nhiệt, diện hoàng nhi suyễn, đầu thống tỵ tắc nhi phiền, kỳ mạch đại, tự năng ẩm thực, phúc trung hoà vô bệnh, bệnh tại đầu trung hàn thấp, cố tỵ tắc, nội dược tỵ trung tắc dũ《Mạch kinh》vân:Bệnh nhân suyễn. Nhi vô “Thấp gia bệnh” dĩ hạ chí “Nhi suyễn” thập tam tự.
[Từ giải]
Nội dược (内药) , nội, đọc là nạp (读纳)
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và phương pháp trị liệu chứng hàn thấp trong đầu, thấp tà do sương sa có tính khinh thanh nhẹ nhàng, thường xâm phạm nửa phần trên của cơ thể, thấp tà bó ở ngoài, nên gây đau đầu nghẹt mũi, đau nửa thân trên. Hàn thấp bó ở ngoài, phế khí nghịch nên phát suyễn, thấp tà dày đặc, nhiễu loạn tâm nên phát phiền, người bệnh mặt có sắc vàng nhưng thân không vàng, là hội chứng thấp tà ở trên. Trong quá tŕnh chính tà đấu tranh, dương khí hướng ra ngoài, nên người bệnh phát sốt, mạch đại (lớn). Trong bụng hoăn hoà là không bị bệnh, ăn uống b́nh thường. Có thể biết hiện tại bệnh tà chưa chuyển nhập lư. Điều trị nên tuyên tán hàn thấp, thông lợi khí cơ (宣散寒湿,通利气机) . Như dùng vị Qua đế tán thành bột, cho bột thuốc vào mũi để mũi chảy ra nước vàng, khiến dương khí tuyên tán thông lợi, thấu xuất hàn thấp ở trên, th́ mọi chứng đều khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] “ Hàn thấp ở trên nên thanh dương bị uất. Đau thân thể, đau đầu, nghẹt mũi là thấp nhiều ở trên, phát sốt, mặt vàng, bực bội, suyễn là biểu hiện dương uất ở trên; Mà mạch đại th́ không so sánh với mạch trầm tế; Bụng hoà hoăn vô bệnh th́ không so với tiểu tiện bất lợi hay đại tiện khoan khoái. Chính là bệnh không ở bụng mà ở trên đầu, nên điều trị bệnh chỉ điều trị ở đầu mà không phạm đến bụng. Nạp thuốc vào mũi, như dùng Qua đế tán, khiến mũi chảy nước vàng là hàn thấp được trừ khứ mà khỏi bệnh, bất tất phải uống thuốc để tránh gây tổn thương sự thuận hoà của cơ thể.
湿家,身烦疼,可与麻黄加术汤发其汗为宜,慎不可以火攻之。
20/ Thấp gia, thân phiền đông, khả dữ Ma hoàng gia truật thang phát kỳ hăn vi nghi, thận bất khả dĩ khả công chi.
Phương thang Ma hoàng gia truật
Ma hoàng 3 lạng, bỏ đốt Quế chi 2 lạng ,bỏ vỏ Cam thảo 1 lạng, Hạnh nhân sao 70 hạt, khứ vỏ và đầu nhọn, Bạch truật 4 lạng . Năm vị trên, dùng 9 thăng nước nấu vị Ma hoàng, cạn bớt 2 thăng, vớt bỏ bọt, cho tất cả thuốc c̣n lại vào nấu c̣n 2,5 thăng, bỏ bă, uống ấm 8 hợp, uống để xuất chút mồ hôi.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng hàn thấp ở biểu. Là người có tố chất cơ thể thấp thịnh (nhiều thấp), lại cảm thụ phong hàn thấp từ bên ngoài, bệnh tà lưu trong da thịt, phần dương bảo vệ bị uất, nên xuất hiện các hội chứng như ghét lạnh, phát sốt, không có mồ hôi, thân thể đau đớn kịch liệt không thể an tĩnh.
Điều trị dùng thang Ma hoàng gia truật. Thang Ma hoàng tán phong hàn thấp; Ma hoàng gặp được Bạch truật th́ tuy phát hăn nhưng sẽ không phát hăn quá nhiều, Bạch truật gặp được Ma hoàng th́ có thể vận hành thấp của biểu lư, thích hợp với t́nh trạng bệnh, phát hăn nhẹ nhàng để giải trừ thấp. Nếu dùng hoả công để phát hăn th́ xuất hăn đầm đ́a, tuy trừ khứ được phong hàn, nhưng tồn tại thấp tà, nên không thể trừ bệnh. Hoặc hoả nhiệt kết hợp, có thể dẫn đến chứng hoàng đản (vàng da) do thấp nhiệt nội uất. Hoặc do hoả nhiệt bên trong quá nhiều, bức bách huyết vọng hành mà biến chứng chảy máu mũi, v́ vậy cần phải chú ư.
[Tuyển chú]
[Y Tôn Kim Giám] Hội chứng bên ngoài của thấp gia, thân thể đau kịch liệt, th́ dùng thang Khương hoạt thắng thấp. Hội chứng bên trong phát chứng vàng da nặng th́ dùng thang Nhân trần ngũ linh tán. Nếu thân thể ch́ rất đau mà không vàng da th́ thuộc ngoại cảm hàn thấp, dùng thang Ma hoàng phát hăn, cũng lưỡng giải cả hàn và thấp, thận trọng không thể dùng hoả công để ép phát đại hăn (xuất quá nhiều mồ hôi) sẽ gây biến chứng.
{Bệnh án}
Họ Thiện, nữ, 37 tuổi. Đầu mùa đông, do mắc mưa ướt áo, về nhà liền phát sót sợ lạnh, đau người và thân thể nặng nề, ít mồ hôi, đau đầu như bị bó lại. Mạch phù khẩn, rêu lưỡi trắng trơn, thuộc chứng phong hàn hiệp thấp từ ngoài xâm nhập, bệnh tà ở kinh Thái dương. Điều trị nên phát hăn giải biểu, trừ thấp tán hàn. Phương phỏng theo thang Ma hoàng gia truật gia vị: Ma hoàng 6g, Quế chi 6g, Hạnh nhân 10, Cam thảo 4g, Thương truật 12g, Sinh khương 3 lát. Đại táo 3 quả. Sắc uống 4 thang, xuất mồ hôi biểu được giải, hết đau người, hết mọi chứng trạng. Điều trị dùng phương trên khứ Ma hoàng để điều hoà tỳ vị, chú ư ẩm thực và sinh hoạt.
21.病者一身尽疼, 发热, 日晡所剧者, 名风湿。此病伤于汗出当风, 或久伤取冷所致也。可与麻黄杏仁薏苡甘草汤。
21/ Bệnh giả nhất tân tận thống, phát nhiệt, nhật bô sở kịch giả, danh phong thấp. Thử bệnh thương vu hăn xuất đương phong, hoặc cửu thương thủ lănh sở chí dă, khả dữ Ma hoàng Hạnh nhân Ư rĩ Cam thảo thang.
【Phương thang Ma hoàng Hạnh nhân Ư rĩ Cam thảo】.
Ma hoàng bỏ đốt ½ lạng ngâm nước Cam thảo 1 lạng, nướng Ư rĩ ½ lạng, Hạnh nhân 10 hạt, bỏ vỏ và đầu nhọn, sao, giá đỗ xắt nhỏ mỗi lần 4 tiền
1,5 chén nước, nấu c̣n 8 phân, bỏ bă uống thuốc c̣n ấm, xuất mồ hôi nhẹ để trừ phong.
[Từ giải]
Nhật bô sở: Là chỉ quăng thời gian từ 2h sau trưa đến 6h chiều (14h~18h).
{Giải thích} Điều văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của bệnh phong thấp tại biểu. Bệnh nhân đang xuất mồ hôi th́ gặp gió lạnh, hoặc có thời gian dài ham thích mát mẻ, cảm thụ hàn thấp, mồ hôi lưu lại trong da, biến thành thấp tà, thấm vào thớ thịt, dẫn đến toàn thân đau nhức phát sốt. Khi đến nhật bô (14h~18h) là thời của dương minh chủ khí đang vượng, chính tà tranh đấu khiến chứng trạng thêm trầm trọng.
Điều trị dùng thang Ma hoàng Hạnh nhân Ư rĩ Cam thảo. Trong phương có Ma hoàng tán hàn thấp, Hạnh nhân lợi phế khí để hỗ trợ trị tiết (điều tiết khí của toàn thân); Ư rĩ lợi thấp kiện tỳ; Cam thảo hoà trung thắng thấp.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú]: “ [Nội kinh·Thái âm Dương minh thiên] luận viết: Hai kinh Thái âm Dương minh là biểu lư, mạch của tỳ vị, bên ngoài hợp với cơ nhục, v́ thế dương thụ phong khí, âm thụ thấp khí, nên khi phong thấp khách (xâm nhập) th́ cơ bắp toàn thân bị đau. Mà dương khí chủ bên ngoài trong thời gian một ngày th́ buổi sáng dương khí sinh là thuộc Thiếu dương, giữa ngày th́ dương khí đầy đặn là thuộc Thái dương, mặt trời ngả về tây khí môn bên trong đóng lại là thuộc Dương minh, chính là khí Dương minh chủ ở hai giờ thân dậu, và v́ thế vào giờ này (nhật bô sở) chứng trạng càng thêm trầm trọng.
风湿脉浮, 身重, 汗出恶风者, 防己黃芪汤主之。
22/ Phong thấp mạch phù, thân trọng, hăn xuất ố phong giả, Pḥng kỷ Hoàng kỳ thang chủ chi.
Phương 【thang Pḥng kỷ Hoàng kỳ】
Pḥng kỷ 1 lạng Cam thảo ½ lạng, Bạch truật sao 7,5 tiền, Hoàng kỳ 1 lạng 1 phân, chặt khúc như hạt đậu lớn, mỗi lần dùng 5 tiền, gừng tươi 4 lát, Đại táo 1 quả, nước 1,5 chén, nấu c̣n 8 phân, bỏ bă uống lúc thuốc c̣n ấm, một lúc lâu sau th́ uống lại. Bị suyễn gia Ma hoàng ½ lạng, vị bất hoà gia Thược dược 3 phân, khí nghịch lên gia Quế chi 3 phân; Bên dưới bị lạnh lâu ngày gia Tế tân 3 phân, sau khi uống có cảm giác như có trùng ḅ trong da, từ eo trở xuống có cảm giác lạnh như băng, sau khi ngồi lên chăn mền, lại quấn mền quanh hạ eo, ấm áp xuất ra một chút mồ hôi là khỏi bệnh.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng phong thấp biểu hư. Phong thấp gây tổn thương cơ biểu, nên xuất hiện mạch phù thân thể nặng nề, vệ dương hư nên biểu không kiên cố v́ thế nên người bệnh xuất mồ hôi và ghét gió.
Điều trị chứng này dùng thang Pḥng kỷ Hoàng kỳ, ích vệ khí để khứ thấp. Trong phương vị Pḥng kỷ có tác dụng tuyên phế tán phong, thông hành kinh lạc để khu trừ thấp trệ; Vị Hoàng kỳ ngọt ấm bồi bổ hư tổn, kiên cố vệ dương để cầm mồ hôi. Hoàng kỳ phối hợp với Pḥng kỷ có thể vận hành tốt thuỷ khí ở cơ biểu, vị Bạch truật, Cam thảo kiện tỳ hoá thấp, phù tŕ chính khí và trừ khứ tà khí, Sinh khương, Đại táo điều hoà doanh vệ để thắng tà thấp. Ghi chú phía dưới phương thang, đối với người mắc bệnh hen suyễn do phong thấp và tắc nghẽn khí phổi, gia Ma hoàng để tuyên tán phong thấp, tỳ vị bị đau do thấp, gia Thược dược điều hoà tỳ khí, thông lợi huyết mạch để giảm đau, thuỷ thấp tích tụ ở hạ tiêu mà lại bốc lên trên, gia Quế chi hạ khí và ôn hoá bệnh tà, hàn thấp ngưng tụ không thông, gia Tế tân để tán hàn lănh đă tích tụ lâu ngày.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]” Phong thấp ở biểu, nên giải theo mồ hôi, mà mồ hôi không chờ phát mà tự xuất, là biểu chưa giải mà đă hư, nên phép phát hăn không thể sử dụng. V́ không thể dùng Ma hoàng xuất bệnh tà ở ngoài da lông, mà phải dùng Pḥng kỷ khu trừ bệnh tà ở trong da thịt, sau khi uống thuốc có cảm giác như trùng ḅ trong da và lạnh giá từ eo trở xuống, đều là biểu hiện của thấp tà hạ hành (đi xuống). Như thế há không phải do Kỳ, Truật, Cam thảo, th́ sao có thể khiến vệ dương mạnh mẽ trở lại, mà khu trừ tà thấp hạ hành như vậy.
[Bệnh án]
Họ Trươngxx 35t, nông dân, khám bệnh ngày 8/4/1978
Bệnh nhân thời gian gần đây nhiều lần làm việc trong mưa, dẫn đến phát sốt, đau khớp, đă điều trị bằng kháng khuẩn tố A.P.C, hạ sốt nhưng các chứng trạng khác vẫn như cũ. Sắc mặt bệnh nhân vàng úa, đầu óc nặng nề, tinh thần mỏi mệt, uể oải thích nằm. Xương cốt đau nhức, nặng nề khó di chuyển, nhất là ở khớp khuỷu tay và đầu gối, xuất mồ hôi sợ lạnh, ăn ít ngon, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch nhu sáp. Kiểm tra: Khớp khuỷu tay và đầu gối sưng trướng hoạt động bị hạn chế, độ lắng máu là 34ml/h; Kháng liên “O” trắc định 1250 đơn vị. Chân đoán là viêm khớp phong thấp. Thuộc chứng thấp Trứ tí (着痹) loại h́nh biều hư, dùng Pḥng kỷ Hoàng kỳ thang gia giảm: Hoàng kỳ, Bạch truật, Tuyên Mộc qua mỗi vị 10g, Hán Pḥng kỷ 15g, Ư rĩ, Từ trường liễu, Phục linh mỗi vị 20g, Hoạt thạch 30g, Thông thảo 5g, sắc uống.
Sau khi uống 5 thang, mọi chứng đều giảm, sau khi uống liên tục 1 tháng, độ lắng máu, kháng liên “O” đều trở lại b́nh thường.
伤寒八九日, 风湿相搏, 身体疼烦, 不能自转侧, 不呕不渴, 脉浮虚而涩者, 桂枝附子汤主之; 若大便坚, 小便自利者, 去桂加白术汤主之。
23/ Thương hàn bát cửu nhật, phong thấp tương bác, thân thể đông phiền, bất năng tự chuyển trắc, bất ẩu bất khát, mạch phù hư nhi sáp giả, Quế chi phụ tử thang chủ chi; Nhược đại tiện kiên, tiểu tiện tự lợi giả, khứ quế gia Bạch truật thang chủ chi.
Phương thang Quế chi Phụ tử
Quế chi 4 lạng, bỏ vỏ Sinh khương 3 lạng, cắt Phụ tử 3 núm, nướng bỏ vỏ, chia làm 8 miếng Cam thảo 2 lạng nướng Đại táo 12 quả, bổ
Phương thang Bạch truật
Bạch truật 2 lạng Phụ tử 1,5 núm, nướng bỏ vỏ Cam thảo 1 lạng, Sinh khương 1,5 lạng, Đại táo 6 quả
Năm vị trên, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n 1 thăng, bỏ bă, phân làm 3 lần uống khi thuốc c̣n ấm. Lần đầu uống có cảm giác thân thể tê đau, sau nửa ngày uống lại, đừng ngạc nhiên như cảm giác bị cảm, đó là truật phụ cùng chạy dưới da trục thuỷ khí chưa được mà tạo thành trạng thái như vậy.
[Từ giải]
Kỳ nhân như mạo trạng; Mạo, huyễn mạo là huyễn vựng
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng phong thấp kiêm dương hư. Ngoại cảm phong hàn thấp, 8,9 ngày không giải, bệnh tà c̣n ở bên ngoài (biểu), nên có mạch phù; Người bệnh không nôn không khát, phản ảnh là bệnh tà chưa truyền nhập kinh Thiếu dương, kinh dương minh và chưa nhập lư. Ba khí phong hàn thấp hợp lại gây bệnh, nếu lưu lại cơ biểu (phần da thịt ở ngoài), bệnh tà phong thấp thắng thế mà biểu dương lại hư, nên mạch phù mà trọng án (ấn xuống) lại là mạch hư; Thấp thịnh (là) trứ tí nên khí huyết không thuận lợi, v́ thế mạch lại sáp, thân thể rất đau, không thể tự trở ḿnh, là t́nh trạng của thấp lưu ở trong khớp.
Điều trị nên dùng thang Quế chi phụ tử, có tác dụng ôn kinh trợ dương để giải tán hàn thấp.
Trong phương có Quế chi tán phong hàn, ôn thông kinh lạc, ôn hoá thấp tà, vị Phụ tử ôn dương hoá thấp, ôn kinh thông tí (trị tê); Sinh khương giải tán phong hàn thấp; Cam thảo, Đại táo bổ tỳ vị và điều hoà doanh vệ.
Sau khi uống thang Quế chi Phụ tử, dương khí thông đạt (thông ra bên ngoài), khí hoá đă vận hành, thấp tà giảm thiểu, nên đại tiện đă thực (phân không lỏng nát), tiểu tiện thông lợi. Nên dùng thang Bạch truật phụ tử, là thang Quế chi Phụ tử khứ quế gia Bạch truật mà thành, để tiến hành làm ấm kinh lạc, hồi phục dương khí, có công dụng vận hành hoá thấp ở biểu. Khi uống thang Bạch truật phụ tử đầu tiên, có thể xuất hiện cảm giác toàn thân như bị tê, cho thấy lực thuốc đă vận hành, tiếp tục uống đến hết thang thứ 3, người bệnh đầu mắt như cảm mạo mà chóng mặt choáng váng, không cần ngạc nhiên, v́ đây chỉ là biểu hiện dư lực của thang Bạch truật Phụ tử sau khi đă trục trừ hết bệnh tà thuỷ thấp trong cơ thể bệnh nhân.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] “Thân thể bị bệnh không thể tự trở ḿnh là bệnh tà ở biểu; Không nôn không khát là bên trong không có nhiệt; Mạch phù hư nhi sáp, là biết phong thấp cầm giữ ở ngoài mà vệ dương th́ không đoan chính. Dùng thang Quế chi khứ Thược dược có tinh vị chua thu liễm, gia vị Phụ tử có tính cay ấm, để chấn hưng dương khí đối địch âm tà. Nếu đại tiện phân cứng, tiểu tiện tự lợi, th́ biết rằng dương của biểu tuy yếu nhược, nhưng khí bên trong vẫn khống chế, th́ chứng thấp trên da, tự có thể có thể được đẩy vào bên trong, theo đường thuỷ mà xuất ra ngoài, không cần phải phát hăn giải biểu thêm, để tránh nguy hiểm lâu dài cho dương. V́ thế ở phương trước khứ bỏ Quế chi vị cay phát tán, gia Bạch truật khổ táo (đắng khô), hợp với Phụ tử có lực kiện hành rất mạnh, đồng thời tiến vào da thịt để trục thuỷ khí, cũng chính là phép nhân thế lợi đạo (因势利导) dựa theo đà mà phát triển.
[Bệnh án 1]
Họ LươngX X, nam, người trưởng thành, tố chất dễ bị cảm mạo tháng 8 năm 1975, đột nhiên có cảm giác ghét gió, xuất hăn nhẹ, toàn thân gân cơ đau ê ẩm nặng nề, khi nằm rất khó trở ḿnh, xương khớp tứ chi co duỗi không thuận lợi, đau đầu cứng cổ gáy, khát nước và ẩu thổ, đại tiểu tiện b́nh thường, miệng nhạt, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch phù hư, thân nhiệt 38.5°C. Người thày thuốc trước dùng thang Tam nhân điều trị chưa hiệu quả nên thay đổi điều trị, người viết cho rằng, chứng này thuộc thể dương hư, cảm thụ phong hàn thấp, là hội chứng tí sơ khởi. Như trong {Thương hàn luận} đă viết: “Phong thấp tương bác, thân thể đông phiền, bất năng tự chuyển trắc, bất ẩu bất khát, mạch phù hư nhi sáp giả, Quế chi Phụ tử thang chủ chi.” Nên dùng Quế chi 10g, Phụ tử 12g, Sinh khương 3 lát, đại táo 6 quả, Cam thảo nướng 6g, uống 3 thang, mọi chứng đều hết và khỏi bệnh.
[Chú thích] Thang Quế chi Phụ tử có nguồn từ {Thương hàn luận} và [Kim Quỹ Yếu Lược] là thang thuốc cay ấm, thành phần gồm: Quế chi, Phụ tử nướng, Sinh khương, Đại táo, chích Cam thảo. Tác dụng của chúng là: Quế chí khứ phong, phối Phụ tử có tác dụng ôn dương hành thấp, Cam thảo, Khương, Táo hoà trung dưỡng vị, có hiệu quả khu phong trừ thấp hoà trung dưỡng vị, mà phong hàn thấp xâm phạm phần ngoài cơ thể (thể biểu) vệ dương đề kháng đấu tranh với ngoại tà nên cơ thể phát sốt, thường v́ nguyên nhân này mà không dám dùng Quế, Phụ. V́ người nhà lo lắng sợ bệnh tăng nặng, khi nấu thuốc th́ giảm lượng Phụ tử xuống c̣n một nửa, không ngờ sau khi uống thuốc, các triệu chứng của bệnh nhân thuyên giảm, nhiệt độ cơ thể cũng giảm xuống. Sau khi uống 2 thang th́ bệnh nhân yên tâm sử dụng, uống thuốc đến khi khỏi bệnh. Do đó có thể thấy, phát sốt không phải là chứng trạng không được dùng Quế Phụ, chỉ cần nắm vững cơ chế bệnh, t́m được mấu chốt căn bản, nếu có mạch chứng dương hư mà sử dụng Quế Phụ, th́ có thể nhanh chóng thu được hiệu quả trị liệu.
[Bệnh án số 2]
Bệnh nhân họ Hoàng x x, nam, 62 tuổi, nông dân, khám bệnh lần 1 ngày 18/12/ 1979, bệnh nhân bị táo bón thành tập quán đă nhiều năm, b́nh thường 4,5 ngày đại tiện 1 lần, chỉ cần ăn một chút thực phẩm có tính cay nóng th́ đại tiện phân sẽ khô kết như phân dê. Nhưng tuy táo bón nhưng bụng bệnh nhân vẫn b́nh thường nên vẫn không kiên tŕ điều trị. Gần đây trời mưa suốt ngày, khí hậu lạnh lẽo, ba ngày trước khi đang làm việc không cẩn thận bị ngă xuống nước, đến ngày thứ hai bắt đầu ớn lạnh phát sốt, toàn thân đau ê ẩm, sau khi uống rượu Tía tô và gừng, ớn lạnh đă giảm, nhưng chứng đau toàn thân không giảm, đặc biệt từ thắt lưng trở xuống xương khớp cơ bắp đau dớn không chịu nổi, làm cho bệnh nhân nằm ngồi không yên, v́ thế nên đi khám bệnh. Khám bệnh thấy rêu lưỡi trắng dày và nhuận, chất lưỡi hồng nhạt, mạch huyền hoăn. Nhân đề cập đến t́nh huống của đại, tiểu tiện, biết được bệnh nhân bị chứng táo bón đă thành tập quán, hiện đă ba ngày chưa đại tiện, nước tiểu vàng nhẹ, v́ vậy lại liên tưởng thấy chứng trạng của bệnh nhân Hoàng rất giống với chứng trạng của thang Quế chi Phụ tử khứ Quế gia Bạch truật trong {Thương Hàn luận}, không ngần ngại liền dùng phương này (Bạch truật 60g, Phụ tử 10g, Chích Cam thảo 6g, Sinh khương 10g, Hồng táo 5g. Ngày thứ hai phúc chẩn, đă hết ớn lạnh, đau người giảm nhẹ, đại tiện thông sướng, lượng phân nhiều, uống thêm 1 thang th́ khỏi bệnh.
24. 风湿相搏, 骨节疼烦, 掣痛不得屈伸, 近之则痛剧, 汗出短气, 小便不 利, 恶风不欲去衣, 或身微肿者, 甘草附子汤主之。
24/ Phong thấp tương bác, cốt tiết đông phiền, xiết thống bất đắc khuất thân, cận chi tắc thống kịch, hăn xuất đoản khí, tiểu tiện bất lợi, ố phong bất dục khứ y, hoặc thân vi thũng giả, Cam thảo Phụ tử thang chủ chi.
Phương thang Cam thảo Phụ tử
Cam thảo chích 2 lạng, Phụ tử 1 núm, nướng bỏ vỏ Bạch truật 2 lạng, Quế chi 4 lạng bỏ vỏ.
Bốn vị thuốc trên, dùng 6 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, bỏ bă uống 1 thăng thuốc lúc c̣n ấm, ngày uống 3 lần, mới uống xuất ra được một chút mồ hôi là giải được bệnh, có thể khi ăn xuất hăn lại bị khó chịu, nên uống 5 hợp, nếu e rằng uống 1 thăng thuốc là quá nhiều, th́ uống khoàng 6,7 hợp là tốt nhất.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày biện chứng luận trị bệnh phong thấp ở bệnh nhân dương khí hư, Bệnh nhân cảm thụ phong hàn thấp, phong hàn thấp nhiều trong khớp xương trên cơ thể, mà dương khí lại hư yếu, v́ thế khớp xương đau nhức, lại đau co rút không ruỗi ra được, chạm vào th́ đau kịch liệt, dương hư biểu (bên ngoài) không kiên cố kín đáo nên xuất mồ hôi, hơi thở ngắn; Hàn khí nhiều mà dương không thể hoá, v́ thế tiểu tiện không thuận lợi, sợ gió không muốn bỏ bớt y phục, hoặc thân thể phù thũng nhẹ, đó là phản ảnh của dương hư mà tà khí mạnh.
Điều trị nên dùng thang Cam thảo Phụ tử, hỗ trợ dương khí ấm kinh lạc, ích khí hoá thấp. Cam thảo, Bạch truật trong phương thang có tác dụng kiện tỳ hoá thấp; Phụ tử, Quế chi ôn dương thông khí, tuyên hành doanh vệ, hoá thấp tán phong. Phương này phù trợ chính khí, trừ khứ tà khí, trong bồi bổ có phát tán, ôn dương ích khí, đối với chứng phong thấp tính tâm tạng bệnh có tác dụng đồng thời chiếu cố cả chính khí và tà khí.
[Tuyển chú]
[Y Tông kim giám]: “Phong thấp liên kết, thân thể rất đau và nặng nề, không thể trở ḿnh, là thấp thắng phong. Hiện nay, đau không thể co duỗi, là phong thắng thấp, đau co rút không thể co duỗi, chạm vào đau kịch liệt, xuất hăn, thở ngắn, sợ gío nên không muốn bỏ bớt y phục, đều là biểu hiện của phong tà quá nhiều. Tiểu tiện không thuận lợi là thấp tích tụ ở bên trong, thân thể bệnh nhân phù thũng nhẹ là thấp ảnh hưởng ở bên ngoài. Dùng thang Cam thảo phụ tử để phát hăn nhẹ, chủ yếu là để khứ phong, thứ nữa là trừ thấp. Với hai điều trên, đă tŕnh bày tỏ tường ư nghĩa của phong thấp, từ đó có thể hiểu rơ trị pháp của chứng phong thấp.
[Bệnh án]
Cung mỗ, nữ, 47 tuổi, khám bệnh tháng 8/1973. Chủ động kể bệnh, Đau eo lưng đă lâu, hai tháng trước kế phát tử cung xuất huyết, sau khi nạo xuất huyết cầm. Nhưng thân thể ngày càng hư yếu nhiều bệnh, đau nhức khớp toàn thân, bệnh sơ khới đau có tính di động, tháng gần đây th́ đau có tính cố định, lưng bàn tay và khớp cổ tay sưng đau. Tiếp theo da thịt ẩn hiện ban màu hồng, đau co rút không thể co duỗi, chạm vào đau kịch liệt, đau nhiều về ban đêm nên trở ngại giấc ngủ. Xuất mồ hôi thấm vào quần áo và chăn mền, ghét lạnh thích ấm áp, vựng đầu yếu sức. Tiểu khó, đau đường tiểu. Sắc mặt tối ám, dung mạo bệnh hoạn đau khổ, rêu lưỡi trắng mỏng và khô, mạch huyền. Chẩn đoán bệnh khí huyết không sung túc, hàn thấp xâm phạm mạch lạc, uất lâu ngày hoá nhiệt. Trị pháp: Bổ khí dưỡng huyết,sơ phong tán hàn, thanh nhiệt lợi thấp.
Xử phương: Đảng sâm 40g, Nhị truật đều 15g, Phụ tử 15g, Quế chi 20g, Bạch thược 20g, Quy 30g, Xuyên khung 15g, Hồng hoa 15g, Pḥng kỷ 15g, Đại Tần dao 20g, Cam thảo 15g, Hoạt thạch 20g, Nguyên bá 15g, Tiên dị lương (Thổ phục linh?) 40g, sắc uống. Uống 4 thang trên, chứng sưng cổ tay và khó tiểu đều giảm. Nhưng các chứng trạng như đêm xuất mồ hôi, đau nhức toàn thân, dùng phương thang trên gia Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ, uống liền một số ngày nhưng vô hiệu. Sau cùng nhớ ra chứng trạng của thang Cam thảo Phụ tử cũng tương tự với chứng trạng bệnh của họ Cung này, liền cải dụng phương này: Quế chi 50g, Phụ tử 15g, Bạch truật 25g, Cam thảo 25g, sắc phân hai lần uống. Uống hết 1 thang hết đau và ngủ được. Uống liền 8 thang, khỏi bệnh và xuất viện.
25.太阳中暍, 发热恶寒, 身重而疼痛, 其脉弦细芤迟, 小便已, 洒洒然毛耸, 手足逆冷, 小有劳, 身即热, 口开前板齿燥, 若发其汗, 则其恶寒; 加温针则发热; 数下之则淋甚.
25/ Thái dương trúng yết, phát nhiệt ố hàn, thân trọng nhi đông thống, kỳ mạch huyền tế khâu tŕ, tiểu tiện dĩ, sái sái nhiên mao tùng, thủ túc nghịch lănh, tiểu hữu lao, thân tức nhiệt, khẩu khai tiền bản xỉ táo, nhược phát kỳ hăn, tắc kỳ ố hàn thậm; Gia ôn châm tắc phát nhiệt thậm, sác hạ chi tắc lâm thậm.
[Từ giải]
Trúng yết; Tức là trúng nắng.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày đặc điểm hội chứng và pp điều trị chứng trúng nắng. Chứng trúng nắng (trúng thử) có tính theo mùa, người xưa nói: Trước hạ chí có bệnh ôn, sau hạ chí là bệnh thử (nắng). Ngày hạ bị tổn thương do thử tà, thử nhiệt th́ háo âm thương khí, nên người bệnh há miệng khó thở (phát suyễn), khô răng cửa, phát sốt, phiền muộn, khát nước, xuất mồ hôi. Hoặc do nắng nóng mà uống nước lạnh, lại dẫn đến hàn tà tổn thương bên ngoài, thấp sẽ tổn thương bên trong, v́ thế lại xuất hiện các chứng như phát sốt, ớn lạnh, ẩu thổ, tiết tả, thân thể nặng nề đau nhức. Vệ dương không thông đạt ra tứ chi, nên tay chân quyết lănh (lạnh lẽo). Nắng nóng (Thử nhiệt) tổn thương khí nên mạch khâu, thử nhiệt tổn thương âm th́ xuất hiện mạch tế, hàn tổn thương ở ngoài nên xuất hiện mạch huyền khẩn, hàn thấp tổn thương bên trong th́ thấy mạch tŕ, nếu hội chứng này như lời kể th́ mạch sẽ có các biến hoá như huyền tế khâu tŕ. Bệnh này bị hàn tà gây tổn thương bên ngoài, mà dương khí bên trong lại hư yếu, nếu phát hăn th́ dương khí bị phân tán ra ngoài và v́ thế bệnh nhân lại càng sợ lạnh, bệnh này hàn thấp gây tổn thương bên trong, mà âm khí lại hư yếu, nếu gia ôn châm sẽ gây tổn thương âm phận dẫn tới sốt cao. Bệnh lại do thấp tà gây tổn thương bên trong, tân dịch bị tổn háo, nếu dùng phép công hạ th́ tân dịch bên trong bị suy kiệt, tất tiểu tiện sẽ đục và đau. Bệnh này thuộc bệnh tổn thương do nắng nóng, mà dương khí đă hư tổn, nên dương khí dễ phù việt ra ngoài, v́ thế chỉ cần vận động nhẹ là cơ thể phát sốt. Khi tiểu tiện xong, v́ khí bàng quang không mạnh, nên vệ dương càng không đủ, khiến thân thể ớn lạnh và lông tóc dựng lên (nổi da gà).
[Tuyển chú]
{Kim Quỹ Yếu Lược Bản Nghĩa}: “Kinh Thái dương chủ biểu, là nơi bệnh tà lục dâm xâm phạm trước tiên, v́ thế trúng bệnh tà gọi là bệnh ở kinh Thái dương, tuy cảm thụ các bệnh tà có sự khác biệt, nhưng nơi cảm thụ bệnh tà th́ giống nhau. Phát sốt là khách tà ở biểu, ghét lạnh là nhiệt tà nhiều ở trong (lư); Thân thể nặng nề đau nhức, hiệp với thấp th́ thân thể nặng nề, hiệp với hàn th́ thân thể đau nhức. Chẩn mạch thấy mạch huyền tế, mạch huyền là hàn tại biểu, mạch tế là nhiệt hiệp với thấp, lại thấy mạch khâu tŕ, mạch khâu là trung khí hư, mạch tŕ là hàn lănh trong bụng. Hợp với các loại mạch và xem xét cẩn thận, th́ bệnh trúng nắng cũng có thể nhận thức được. Tái xét đến các chứng c̣n lại: Khi tiểu tiện xong có cảm giác ớn lạnh, lông tóc đứng dựng, biểu của kinh thái dương có bệnh tà, th́ ứng với phủ bàng quang, khi tiểu tiện khí ảnh hưởng đến bàng quang, nối liền với da lông, lông tóc dựng lên là cảm giác ghét gió lạnh (ố phong hàn), lại thấy tay chân quyết lănh, bên trong nóng mà xuất hiện hàn lănh ở tay chân (tứ mạt), là bên trong nóng và hàn thấp bị uất, khí bị trở ngại không thể lan toả (bất tuyên), lại có thể thấy ở tay chân nghịch quyết th́ cũng đều là hiện tượng nội nhiệt ngoại hàn. Chỉ cần hơi mỏi mệt là thân thể phát sốt, nhiệt bệnh âm hư nên khi vận động th́ sinh dương; Mở miệng răng trước cửa bị khô là biểu hiện bên trong nhiệt thịnh, muốn mở miệng để tiết bớt khí nóng, v́ tiết khí nóng ra khíến răng cửa bị khô. Đó là chứng nhiệt thịnh tích nhiều bên trong. Nếu chỉ cảm nắng đơn thuần th́ trong ngoài đều là dương tà, nếu hiệp hàn thấp th́ bên trong là dương tà mà bên ngoài là âm tà, nếu không kiêm trị nội ngoại th́ cũng không thể thu được công hiệu.
太阳中热者, 暍是也, 汗出恶寒, 身热而渴, 白虎加人参汤主之。
26/ Thái dương trúng nhiệt giả, yết thị dă, hăn xuất ố hàn, thân nhiệt nhi khát, Bạch hổ gia Nhân sâm thang chủ chi.
[Phương thang Bạch hổ gia Nhân sâm]
Tri mẫu 6 lạng, Thạch cao 1 cân, giă nát Cam thảo 2 lạng, Cánh mễ 6 hợp, Nhân sâm 3 lạng.
5 vị thuốc trên , dùng 1 đấu nước, nấu gạo chín, bỏ bă, uống 1 thăng, ngày 3 lần.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng trúng nắng. Ngày mùa hạ cảm thụ thử nhiệt tà khí (nắng nóng mùa hè), tổn thương khí và âm, thử nhiệt quá mạnh, v́ thế phát sốt, xuất mồ hôi, sợ lạnh, nóng nắng tổn thương âm nên khát nước, bực bội, nước tiểu màu đỏ. Điều trị dùng thang Bạch hổ gia Nhân sâm, thanh nhiệt giải thử (nắng), ích khí sinh tân. Trong phương có Thạch cao thanh trừ nhiệt ở trong và ngoài, Tri mẫu bổ âm thanh nhiệt, Cam thảo, Cánh mễ ích vị sinh tân dịch, Nhân sâm bổ khí sinh tân, bảo vệ nguyên khí củng cố căn bản.
[Tuyển chú]
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển} “Trúng nhiệt cũng là trúng nắng, Yết (暍) cũng là khí của nắng. Ghét lạnh, nhiệt khí nhập vào th́ da thịt hoà hoăn, khe thớ thịt mở, khi thớ thịt mở th́ lạnh, nhưng khác với cảm giác ghét lạnh của chứng thương hàn. Phát nhiệt xuất mồ hôi và khát, v́ nhiệt ở biểu lư quá mạnh, vị âm khô cạn phải cầu cứu nước, do đó nên dùng thang Bạch hổ gia Nhân sâm để thanh nhiệt sinh âm. Là phép điều trị chứng trúng nắng mà không kèm theo thấp.
太阳中暍, 身热疼重, 而脉微弱, 此以夏月伤冷水, 水行皮中所致也。 一物瓜蒂汤主之。
27/ Thái dương trúng yết, thân nhiệt đông trọng, nhi mạch vi nhược, thử dĩ hạ nguyệt thương lănh thuỷ, thuỷ hành b́ trung sở chí dă. Nhất vật qua đế thang chủ chi.
[Nhất vật qua đế thang]
Qua đế 27 cái
Vị trên chặt nhỏ, dùng nước 1 thăng, nấu c̣n lại 5 hợp, bỏ bă uống hết trong 1 lần.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày biện chứng luận trị bệnh trúng nắng có kiêm thấp. Bệnh nhân trúng thử nhiệt, bệnh tà ở biểu của kinh Thái dương, nên thân thể phát sốt; Lại tổn thương do nước lạnh (hoặc do uống hay v́ tắm), thuỷ ở trong da nên thân thể đau nhức, trúng nắng tổn thương khí, khí bị tổn thương nên hư yếu, v́ thế nên mạch vi nhược. Điều trị dùng Qua đế tán, trị phù thũng ở thân thể, mặt và tứ chi, tán thuỷ khí trong da thịt, là phép dùng thuốc có vị đắng để bài tiết thấp tà ra ngoài.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Người bị trúng thử (nắng), âm hư và nhiều hoả, là thử ở trong hoả, gây xuất mồ hôi và rất khát, dương hư mà nhiều thấp, thử ẩn bên trong thấp, làm thân thể nóng, đau và nặng nề. V́ thử luôn kết hợp với thấp làm bệnh, nên trị thấp tức là trị thử. Vị Qua đế đắng lạnh có thể thổ lại có thể tả hạ, để trừ khứ thuỷ khí ở thân thể, mặt và tứ chi, thuỷ bị trừ khứ nên thử không có dựa, do đó dù không điều trị mà bệnh thử cũng tự giải trừ.
Đó cũng là phép trị chứng trúng thử mà có kiêm thấp tà.
[Kết ngữ]
Chương này tŕnh bày biện chứng luận trị 3 chứng: Kính, thấp và yết. Nguyên nhân của bệnh kính là cảm thụ phong hàn tà khí, cộng thêm tân dịch không đủ, không thể tưới nhuần cân mạch mà gây bệnh. Chứng trạng chủ yếu gồm lưng gáy co cứng, không thể mở miệng (cấm khẩu), thậm chí thân thể cong như cây cung dương ngược (Giác cung phản trương). Mạch tượng khẩn như huyền, thẳng lên trên đi xuống dưới (lên thốn xuống xích). Biện chứng bệnh kính phân thành ba loại Cương kính, nhu kính, thực nhiệt kính: Cương kính là biểu thực vô hăn, v́ thế dùng thang Cát căn; Nhu kính là biểu hư hữu hăn, th́ dùng Quế chi gia Cát căn thang; Nếu mạch trầm tŕ th́ dùng Qua lâu Quế chi thang; Chứng thực nhiệt kính là hội chứng dương minh táo nhiệt tổn thương tân dịch, nên dùng thang Đại thừa khí.
Nguyên nhân thành bệnh thấp, là ngoại cảm phong hàn thấp, chứng trạng chủ yếu là thân thể đau và nặng nề, khớp xương rất đau. Biện chứng bệnh thấp, nếu biểu thực vô hăn, dùng thang Ma hoàng gia truật; Đau kịch liệt vào nhật bô (giờ thân), dùng thang Ma hoàng Ư Cam; Biểu hư có mồ hôi, dùng thang Pḥng kỷ Hoàng kỳ; Nếu hàn thấp thịnh mà dương khí vi nhược (nhỏ yếu), th́ nên tuyển dụng thang Quế chi Phụ tử, thang Bạch truật Phụ tử, thang Cam thảo phụ tử để hỗ trợ dương và khí hóa hàn thấp, chính tà cùng kiêm cố là việc cần làm. Nói tóm lại, trong phương dược trị thấp, có các trị pháp chủ yếu như phát hăn khứ tà; Ôn thông kinh lạc, lợi khớp giảm đau; Ôn thông lợi thấp, trừ tê hoá ngưng (trệ), nếu có thể kết hợp với thực tế lâm sàng, th́ rất có ư nghĩa thực tiễn.
Yết tức là bệnh về nắng nóng, gọi là thử bệnh, biện chứng thử bệnh phân thành hai loại thử nhiệt và thử thấp, trong chương này tiến hành phân tích thử bệnh khí âm lưỡng thương với thử bệnh có kiêm hàn thấp, đồng thời đề cử được phương pháp điều trị khá toàn diện.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:00:25 | 03 BÁCH HỢP HỒ HOẶC ÂM DƯƠNG ĐỘC
Chương 3 Bách hợp Hồ hoặc Âm Dương Độc Bệnh Chứng Trị
Khái thuyết
Phần này tŕnh bày biện chứng luận trị ba loại bệnh gồm Bách hợp, Hồ hoặc và Âm dương, trong chương có 15 điều và 12 phương dược. Trong đó điều thử nhất là tổng luận về bệnh Bách hợp, giải thích cơ chế phát sinh bệnh, hội chứng mạch và kết cục của bệnh. Từ điều 2 đến điều 9 là thảo luận hội chứng và trị pháp của bệnh bách hợp và trị pháp của các loại biến chứng. Từ điều thứ 10 đến điều 13 giải thích biện chứng và phương dược của bệnh Hồ hoặc. Hai điều 14 và 15 tŕnh bày về hội chứng và điều trị bệnh âm dương độc. Ba căn bệnh được đề cập trong bài viết này đều do nhiệt bệnh truyền biến gây ra. Mà các chứng trạng biểu hiện có những điểm tương tự, ví dụ như các triệu chứng của bệnh bách hợp thường âm thầm lặng lẽ, người bệnh muốn nằm mà không thể, giống như các triệu chứng của bệnh Hồ hoặc, đó là im lặng muốn ngủ, mà không thể nhắm mắt, bồn chồn khi nằm xuống. Bệnh Hồ hoặc có tổn thương đến cổ họng, c̣n bệnh âm dương độc c̣n gây đau họng. V́ vậy, ba căn bệnh này được thảo luận cùng nhau trong một bài viết để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích phân biệt.
Bệnh Bách hợp có thể phát sinh sau bệnh ôn nhiệt, hoặc do t́nh chí không như ư, dẫn đến các chứng như âm hư nội nhiệt, tinh thần hoảng hốt, ăn uống và hành vi thất thường, miệng đắng, tiểu tiện màu đỏ, mạch vi sác.
Bệnh Bách hợp, tên tiếng nước ngoài là Lily Disease, là bệnh tinh thần có biểu hiện chủ yếu là tinh thần không ổn định, v́ Bách hợp là vị thuốc chủ yếu dùng để điều trị bệnh này nên đặt tên là bệnh Bách hợp; chẩn đoán theo nội khoa, một là điều trị bệnh này với chủ dược là vị Bách hợp, hai là do bách mạch nhất tông (trăm mạch cùng một nguồn) cũng có ư nghĩa hợp nhất nên gọi là bệnh bách hợp, bệnh này gây đau toàn thân, không truyền biến kinh lạc, tinh thần hoảng hốt, khi đi lại, nằm, ăn uống đều có cảm giác khó chịu, là những biểu hiện chủ yếu của bệnh về tinh thần.
Bệnh Hồ hoặc là do thấp nhiệt độc uẩn kết bên trong gây ra bệnh. Có các chứng trạng như mắt đỏ, yết hầu và tiền hậu âm bị hư hại. V́ chứng này có cổ danh là bệnh Hồ hoặc. Các y gia thời sau này phân thành chứng “Nha cam” (牙疳) và “Hạ cam” (下疳).
Âm dương độc là tên gọi chung của bệnh âm độc và bệnh dương độc, do bệnh tà dịch độc, tích chứa trong huyết mạch mà thành bệnh. Âm độc có các chứng trạng như: Mặt mắt có màu xanh, thân thể đau đớn như bị đánh bằng gậy, đau họng; Dương độc có các chứng trạng: Mặt đỏ loang lổ như vân gấm, đau họng, thổ ra máu mủ. V́ Âm dương độc là bệnh cảm thụ bệnh tà hay lây, v́ thế bệnh có tính truyền nhiễm nhất định.
1/ 论曰:百合病者,百脉一宗,悉致其病也。意欲食复不能食,常默然,欲卧不能卧,欲行不能行,饮食或有美时,或有不用闻食臭时,如寒无寒,如热无热,口苦,小便赤,诸药不能治,得药则剧吐利,如有神灵者,身形如和,其脉微数,每溺时头痛者,六十日乃愈;若溺时头不痛, 淅然者,四十日愈;若溺快然,但头眩者,二十日愈。其证或未病而预见,或病四五日而出,或病二十日或 一月微见者,各随证治之。
1/ Luận viết: Bách hợp bệnh giả, bách mạch nhất tông, tất chí kỳ bệnh dă, ư dục thực phục bất năng thực, thường mặc nhiên, dục ngoạ bất năng ngoạ, dục hành bất năng hành, ẩm thực hoặc hữu mỹ thời, hoặc hữu bất dụng văn thực xú thời, như hàn vô hàn, như nhiệt vô nhiệt, khẩu khổ tiểu tiện xích, chư dược bất năng trị, đắc dược tắc kịch thổ lợi, như hữu thần linh giả, thân h́nh như hoà, kỳ mạch vi sác, mỗi niệu thời đầu thống giả, lục thập nhật năi dũ; Nhược niệu thời đầu bất thống, tích nhiên giả, tứ thập nhật dũ; Nhược niệu khoái nhiên, đăn đầu huyễn giả, nhị thập nhật dũ. Kỳ chứng hoặc vị bệnh nhi dự kiến, hoặc bệnh tứ ngũ nhật nhi xuất, hoặc bệnh nhị thập nhật hoặc nhất nguyệt vi kiến giả, các tuỳ chứng trị chi.
[Từ giải]
Bách mạch nhất tông: Là chỉ về huyết mạch của con người, phân chia ra là trăm mạch, hợp lại th́ là một gốc rễ. Trăm mạch hướng về gốc rễ là tạng phế
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày nguyên nhân, bệnh cơ, chứng trạng và tiên lượng của bệnh Bách hợp. Bệnh Bách hợp là do tâm huyết phế âm lưỡng hư, âm hư nội nhiệt gây ra bệnh. Là sau khi bị nhiệt bệnh, âm huyết chưa hồi phục, dư nhiệt chưa hết, tiêu hao tân dịch, thường xuyên lo lắng tổn thương tạng tâm, không toại ư, uất kết hoá hoả, háo tổn tân dịch, khiến tâm huyết và phế âm cùng tổn thương, âm hư sinh nội nhiệt, bách mạch bị liên luỵ, khiến cho bách mạch bất hoà, xuất hiện hàng trăm chứng trạng, nên có câu: “Bách mạch nhất tông, tất chí kỳ bệnh dă” (百脉一宗,悉致其病也。) Trăm mạch cùng gốc rễ, nên đều bị bệnh.
V́ tâm huyết và phế âm bị hư tổn, hư nhiệt bên trong rất mạnh, nhiệt tà tản mạn, không quy về một kinh mà đi vào trăm mạch. Mạch hướng về phế mà liên hệ với tâm, tâm thần mất sáng suốt thông tuệ, nên có ư muốn ăn mà không thể ăn, muốn nằm mả không thể nằm, muốn đi mà không thể đi, tựa như có mà không, tất cả đều mờ mịt không đích xác, h́nh tượng đến đi đều không thể tin cậy. Duy chỉ có ba chứng trạng gồm miệng đắng, nước tiểu tiện màu đỏ và mạch vi sác là phản ảnh được bên trong có tà nhiệt chưa giải trừ. Nếu người bệnh mỗi lần tiểu tiện mà đau đầu, đó là do nhiệt tà quá nặng, phải đợi đến 60 ngày, âm khí hồi phục th́ sẽ khỏi bệnh, nếu khi tiểu tiện mà người bệnh không đau đầu, chỉ hơi sợ gió lạnh là do thế bệnh nông, tất đợi 40 ngày sẽ khỏi bệnh, nếu tiểu tiện khoan khoái b́nh thường, nhưng người bệnh huyễn vựng, th́ bệnh càng nhẹ, không quá 20 ngày có thể khỏi bệnh. Bệnh Bách hợp thường gặp sau khi bị nhiệt bệnh, có trường hợp là dự kiến khi bệnh chưa phát; hoặc phát hiện trước hoặc sau khi phát bệnh khác nhau, nhưng đều phải tuỳ theo hội chứng cụ thể mà điều trị bệnh.
Đến như cơ chế bệnh của chứng khi tiểu tiện th́ đau đầu: Nguyên nhân là tạng phế thông điều thuỷ đạo có công dụng vận chuyển xuống bàng quang, kinh mạch bàng quang tuần hành ở xương sống lưng, lên đến đỉnh đầu, nhập vào lạc mạch trong năo. Khi tiểu tiện th́ dương khí tiết xuống, khi dương khí tiết xuống th́ trên đầu không c̣n đầy đủ dương khí, nên đau đầu, Đó là biểu hiện của dương khí suy yếu, bệnh t́nh khá nghiêm trọng, v́ thế viết: Sáu mười ngày th́ khỏi bệnh; Nếu khi tiểu tiện không đau đầu mà chỉ sợ gió lạnh, là khi dương khí tiết xuống, vệ dương hư nhược, không thể sưởi ấm bên ngoài, nhưng chỉ là biểu hiện của t́nh trạng bệnh khá nhẹ, nên viết: Bốn mươi ngày khỏi bệnh; Khi tiểu tiện khoan khoái b́nh thường, đầu huyễn, là hoa mắt của chứng dương khí hư nhẹ, là biểu hiện của bệnh rất nhẹ, nên có câu: Hai mươi ngày khỏi bệnh. Như đă tŕnh bày ở trên, bệnh Bách hợp do t́nh trạng bệnh nặng nhẹ khác nhau, nên chứng trạng cũng không giống nhau, thời gian khỏi bệnh cũng dài ngắn khác nhau. Đến các số ngày là 20, 40 ngày, 60 ngày, tất cả chỉ là những con số ước lượng mà thôi, không nên cố chấp.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Bách mạch nhất tông là phân ra là trăm mạch, hợp lại là một gốc rễ. Như thế khi bị bệnh th́ tất nhiên là tất cả sẽ cùng thụ bệnh, không có trường hợp vô bệnh. Và có thể hiểu rơ các chứng: Ư muốn ăn, lại không thể ăn; Thường yên lặng an tĩnh, lại vội vă không thể nằm, ăn uống có lúc thấy ngon, mà có lúc không muốn ngửi mùi thực phẩm; Có khi lạnh, cũng có khi nóng, mà lại không cảm thấy lạnh, không thấy nóng, các loại thuốc đều không thể điều trị, uống thuốc sẽ gây nôn mửa tiêu chảy kịch liệt, mà lại thấy thân h́nh như b́nh thường. Toàn là những h́nh tượng đến đi mờ mịt không thể tin cậy. Duy chỉ có miệng đắng, nước tiểu màu đỏ, mạch vi sác, th́ cũng là những điều b́nh thường. Tại sao như thế? Nhiệt tà tản mạn, không cố định trong kinh mạch, đi lại bất định, nên bệnh cũng đến, đi vô định. Cho nên v́ là bệnh nhiệt nên sẽ biểu hiện ở mạch, ở miệng và ở tiểu tiện, là những điều không thể che dấu. Kinh Thái dương là phủ bàng quang, mạch lên đến đỉnh đầu, tuần hành trên da thịt. Khi tiểu tiện th́ đau đầu, là khi đột nhiên dương khí hư, th́ nhiệt khí thừa cơ xâm phạm, tuỳ theo chậm hay nhanh rồi bệnh cũng sẽ giảm. V́ khi tiểu tiện là khí đột nhiên bị suy giảm, sau khi hết tiểu tiện, âm dần dần tập trung th́ nhiệt khí hoăn giải. Nếu là bệnh nặng th́ cần 60 ngày, chư âm tập trung đầy đủ và khỏi bệnh; bệnh nhẹ hơn th́ cần 40 ngày; Nhẹ hơn nữa th́ cần 20 ngày, nhiệt càng giảm kém th́ càng chậm khỏi bệnh. Bệnh này thường xuất hiện trước hoặc sau nhiệt bệnh thương hàn, chưa bị bệnh mà dự kiến là do nhiệt khí động trước, mà sau khi bệnh 40 ngày, hoặc 20 ngày, hoặc 1 tháng mà thấy là do nhiệt c̣n sót lại. Tất cả đều tuỳ theo chứng mà điều trị, sẽ được tŕnh bày cụ thể ở phần dưới.
百合病发汗后者, 百合知母汤主之。
2/ Bách hợp bệnh phát hăn hậu giả, Bách hợp Tri mẫu thang chủ chi.
Phương thang Bách hợp Tri mẫu
Bách hợp 7 cái (phách) Tri mẫu 3 lạng (cắt), đầu tiên dùng nước rửa Bách hợp, ngâm 1 đêm, vớt hết bọt, thêm 2 thăng nước suối, nấu c̣n lại 1 thăng, dùng 2 thăng nước suối nấu vị Tri mẫu. C̣n lại 1 thăng bỏ bă; sau cùng hoà chung nấu c̣n 1.5 thăng, phân 2 lần uống lúc thuốc ấm.
{Giải thích}
Đoạn văn tŕnh bày hội chứng và trị pháp của bệnh Bách hợp sau khi điều trị nhầm bằng phép phát hăn. Bệnh Bách hợp có hội chứng tựa như hàn mà không hàn, như nhiệt mà không nhiệt. Thày thuốc ngộ nhận đây chính là chứng biểu thực mà dùng phép phát hăn, sau khi phát hăn th́ tổn thương tân dịch, tâm huyết và phế âm càng hư, nên hư nhiệt càng nặng, v́ thế xuất hiện các chứng trạng như tâm phiền, khát nước. Điều trị dùng thang Bách hợp Tri Mẫu, có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt, nhuận táo trừ phiền (养阴清热,润燥除烦) trong phương có Bách hợp thanh tâm nhuận phế , ích khí an thần (清心润肺,益气安神); Tri mẫu thanh nhiệt trừ phiền, dưỡng âm chỉ khát (清热除烦, 养阴止渴), phối với nước suối thanh nhiệt lợi tiểu, dẫn nhiệt đi xuống. Kết hợp 3 vị thuốc, có công dụng dưỡng âm trừ nhiệt.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] “Bệnh Bách hợp không nên phát hăn mà lại phát hăn, bệnh không giải được lại thêm khô táo. Dùng thang Bách hợp Tri mẫu chủ trị bệnh này, có tác dụng thanh và nhuận (thanh nhiệt và tưới nhuần khô táo)
3/ 百合病下之后者,滑石代赭汤主之
3/ Bách hợp bệnh hạ chi hậu giả, Hoạt thạch đại giả thang chủ chi.
Phương thang Hoạt thạch Đại giả
Bách hợp 7 cái (phách) Hoạt thạch 3 lạng, giă nát bọc trong vải bông, Đại giả thạch to như viên đạn, giă nát bọc bằng vải.
Đầu tiên dùng nước rửa vị Bách hợp, ngâm 1 đêm, vớt bỏ bọt, bỏ nước dùng 2 thăng nước suối, nấu c̣n 1 thăng, bỏ bă, dùng 2 thăng nước khác để nấu Hoạt thạch, Đại giả, lấy lại 1 thăng bỏ bă, hợp 2 thăng thuốc lại nấu c̣n 1.5 thăng, phân ra uống ấm.
{Giải thích}
Điều văn tŕnh bày hội chứng và trị pháp bệnh Bách hợp sau khi ngộ hạ (hạ nhầm). Bệnh Bách hợp gồm các chứng trạng như: Có ư muốn ăn, lại không thể ăn, miệng đắng, nước tiểu tiện đỏ, mạch vi sác. Thày thuốc chẩn đoán nhầm là chứng lư thực, mà dùng phép công hạ, khiến tân dịch càng bị tổn thương, nội nhiệt tăng lên, v́ thế thường thấy nước tiểu có màu đỏ vàà sáp rít tiểu tiện khó khăn. Lại do các vị thuốc đắng lạnh, gây tổn thương vị khí, v́ thế vị khí nghịch lên gây nôn oẹ.
Điều trị dùng thang Hoạt thạch đại giả để tư âm thanh nhiệt, hoà vị giáng nghịch. Trong phương có Bách hợp tư nhuận tâm phế, ích khí an thần, vị Hoạt thạch thanh nhiệt lợi tiểu, Đại giả thạch hoà vị giáng nghịch, phối thuỷ tuyền dẫn nhiệt hạ hành.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]:” Sau khi công hạ, công hạ thường tổn thương âm, âm hư hoả nghịch, v́ thế dùng vị Bách hợp cùng Hoạt thạch để đi ra khiếu, vị Đại giả thạch trấn nghịch để thông dương khí, gia thêm nước suổi để tả âm hoả, để âm khí tự điều hoà.”
4.百合病吐之后者, 用后方主之。
4/ Bách hợp bệnh thổ chi hậu giả, dụng hậu phương chủ chi.
{Giải thích}
Điều văn tŕnh bày hội chứng và trị pháp bệnh Bách hợp sau khi ngộ thổ (thổ nhầm). Bệnh Bách hợp có chứng trạng không muốn ngửi mùi thực phẩm, thày thuốc cho rằng đây là biểu hiện của túc thực đ́nh trệ (thực phẩm đ́nh trệ qua đêm chưa tiêu hoá) mà dùng phép thổ, càng làm tổn thương âm của phế vị, lại gây nhiễu loạn khí hoà giáng của vị, khiến hư phiền bất an, và trong vị bất hoà
Điều trị dùng thang Bách hợp kê tử, bổ âm nhuận táo trừ phiền, trong phương có vị Bách hợp tư dưỡng âm của phế vị, thanh nhiệt trừ phiền; Kê tử hoàng (ḷng đỏ trứng) dưỡng âm nhuận táo, an khí của ngũ tạng, có thể trừ hư phiền; Nước suối dưỡng âm tiết nhiệt.
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận]: “Thổ pháp tổn thương nguyên khí, không cung cấp được âm tinh, v́ thế bệnh Bách hợp sau khi dùng phép thổ, nên dùng ḷng đỏ trứng gà để dưỡng âm cùng với nước suổi để tư âm, hiệp với vị Bách hợp để vận hành phế khí, th́ khí huyết điều hoà mà âm dương tự cân bằng.
5. 百合病不经吐, 下, 发汗, 病形如初者, 百合地黄汤主之。
5/ Bách hợp bệnh bất kinh qua thổ, hạ phát hăn, bệnh h́nh như sơ giả , Bách hợp địa hoàng thang chủ chi.
Phương thang Bách hợp địa hoàng
Bách hợp 7 cái.
Sinh địa hoàng trấp 1 thăng
Dùng nước rửa Bách hợp, ngâm 1 đêm, vớt bọt, bỏ nước, lấy 2 thăng nước nấu c̣n 1 thăng, bỏ bă, cho nước địa hoàng vào nấu c̣n 1 thăng 5 hợp, chia 2 lần uống, trúng bệnh th́ đừng uống thêm, đại tiện thường như sơn đen.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày phương pháp điều trị chính của bệnh Bách hợp chưa trải qua các trị pháp như hăn, thổ, hạ. Bệnh Bách hợp là do tâm huyết và phế âm cùng hư tổn, âm hư nội nhiệt, tà khí chảy vào các mạch (bách mạch) mà thành Bách hợp bệnh. Điều trị dùng thang Bách hợp địa hoàng có tác dụng dưỡng tâm huyết, bổ phế âm, lương huyết thanh nhiệt. Vị Bách hợp trong phương thang có tác dụng dưỡng phế âm, thanh hư nhiệt; Sinh địa hoàng ích doanh lương huyết, bổ thuỷ giáng hoả, điều hoà huyết mạch; Tuyền thuỷ (nước suối) lợi tiểu tiện, bài tiết hư nhiệt. Ba vị thuốc hợp lại, khiến âm khí sung túc, trừ khứ được nhiệt tà, bách mạch điều hoà, nên có thể tự khỏi bệnh.
[Tuyển chú]
{Y Tông Kim Giám} “Bệnh Bách hợp, không trải qua các trị pháp như thổ, hạ và phát hăn, bệnh giống như lúc đầu, chính là bệnh kéo dài đă lâu, mà bệnh không tăng giảm, h́nh chứng vẫn như ban đầu, dùng thang Bách hợp địa hoàng, thông bách mạch, lương (mát) bách mạch. Trúng bệnh nên ngưng uống, e rằng khi uống quá nhiều vị địa hoàng th́ đại tiện sẽ như sơn.
[Bệnh án]
Liên x x, nam, 48t, cán bộ khám bệnh ngày 14/10/1980. : Cách đây một tháng, tinh thần tôi kém do nóng nảy, ngủ ít và mơ nhiều, khó tiêu, miệng đắng, nước tiểu ngắn và đỏ. Trong tuần qua, tôi đứng ngồi không yên, bồn chồn và đa nghi, đặc biệt là vào ban đêm. Triệu chứng hiện tại: Tinh thần và thể chất mệt mỏi, đi lại như muốn ngă, muốn ăn th́ không ăn được, muốn nằm th́ không nằm được, tôi đă đến bệnh viện nhiều lần để chẩn đoán và điều trị và được kê đơn thuốc an thần. các loại thuốc thư can lư khí, điều đàm, thanh nhiệt đều không có tác dụng. Tiền sử: bị liệt dương đă 5 năm. Khám thực thể: Tổng trạng b́nh thường, tỉnh táo, nói năng rơ ràng, chất lưỡi hồng, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch trầm tế mà sác. Tóm lại, tổng hợp phấn tích hội chứng và mạch là do thận hư luỹ cập (liên luỵ) đến tâm phế, âm hư sinh nội nhiệt, bách mạch không được nuôi dưỡng mà thành bệnh. Chẩn đoán là bệnh bách hợp, dùng trị pháp tư âm thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, dùng phương thang Bách hợp địa hoàng, Tri bá địa hoàng thang gia giảm
Xử phương: Bách hợp 100g, Sinh địa 15g, Tri mẫu 15g, Sơn dược 15g, Phục linh 15g, Táo nhân sao 20g, Cam thảo 10g, hai tễ, ngày 1 tễ sắc uống
Ngày 18/10 khám bệnh lần 2; Sau khi uống thuốc các chứng đều giảm quá nửa, tiểu tiện thoải mái, trong miệng b́nh thường, có thể năn được nhưng ăn ít, có thể ngủ, rêu lưỡi đă b́nh thường, thuốc đă ứng với chứng, tiếp theo dùng phương trên gia thêm Quy bản 15g, 3 thang.
Ngày 19/10 khám bệnh lần 3, các chứng cơ bản đă hết, tinh thần khôi phục b́nh thường, ăn uống tăng, ngủ ngon, nhưng c̣n cảm thấy lưng ê ẩm và mệt mỏi. Lại lấy thêm 6 tễ.
Ngày 25/10 khám bệnh lần 4, Tất cả các chứng đều hết, đă đi làm, chứng liệt dương cũng biến chuyển tốt, đổi thuốc thành tân lục vị địa hoàng hoàn để củng cố căn bản.
6/ 百合病一月不解, 变成渴者, 百合洗方主之。
6/ Bách hợp bệnh nhất nguyệt bất giải, biến thành khát giả, Bách hợp tẩy phương chủ chi.
Bách hợp tẩy phương
Lấy Bách hợp 1 thăng, dùng một đấu nước ngâm 1 đêm, để lau rửa cơ thể, rửa xong, ăn bánh bột nấu, không dùng muối.
[Từ giải]
Chử bính: Có thể là một dạng bánh bột nấu.
{Giải thích}
Đoạn văn này luận về phương pháp điều trị biến chứng của bệnh Bách hợp. Do tâm phế âm hư nội nhiệt, kéo dài 1 tháng không được giải trừ, âm tân (dịch) khuy tổn, hư hoả bốc lên mạnh mẽ, nên xuất hiện khát nước, chỉ sử dụng Bách hợp địa hoàng thang, th́ sức thuốc không đủ, phối dụng với Bách hợp tẩy phương, với nước ngâm Bách hợp tẩy rửa thân thể. Bên ngoài tẩy rửa da thịt, khí thông với phế để thanh phế nhiệt, bên trong uống bên ngoài tẩy rửa, cộng lại thu được hiệu quả dưỡng âm thanh nhiệt, rửa đến khi xuất hăn và dạ dày có cảm giác đói, th́ ăn bánh bột nấu, có tác dụng ích khí nuôi dưỡng tân dịch, thanh nhiệt trị khát. Không nên ăn với muối, e rằng vị mặn gây tổn thương huyết dịch, háo tổn tân dịch tăng nhiệt và lại khát.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám]; Bệnh Bách hợp căn bản là không có chứng trạng khát nước, đến nay bệnh đă kéo dài 1 tháng chưa khỏi, xuất hiện chứng trạng khát nước, điều trị bằng cách: Bên ngoài dùng thang Bách hợp tẩy rửa thân thể có tác dụng thông biểu tả nhiệt, bên trong ăn bánh bột nấu, đừng ăn với đậu muối, để không dẫn đến khát, và chứng khát nước tự hết.
百合病不差者, 栝楼牡蛎散主之。
7/ Bách hợp bệnh bất sai giả, Qua lâu Mẫu lệ tán chủ chi
Phương Qua lâu Mẫu lệ tán
Qua lâu căn, Mẫu lệ nướng lượng hai vị thuốc bằng nhau.
Tán thành bột, mỗi lần uống 1 th́a cổ (phương thốn chuỷ), ngày 3 lần.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày phương pháp điều trị chứng khát nước không giảm của bệnh Bách hợp. Như đă tŕnh bày ở trên, nếu uống thang Bách hợp địa hoàng và dùng nước Bách hợp để tẩy rửa bên ngoài mà chứng khát nước vẫn không giảm, là do nhiệt gây tổn thương tân dịch gây ra. Trường hợp này có thể điều trị bằng Qua lâu Mẫu lệ tán.
Phương Qua lâu Mẫu lệ tán có tác dụng sinh tân dịch, trị chứng khát nước, thu liễm phù nhiệt. Trong phương có Qua lâu căn khí mát tính nhuận, khởi phát tỳ âm, cung cấp tân dịch, để trị chứng khát; Mẫu lệ liễm nhiếp dương nhiệt ở trên, tán mạn tuỷ ẩm bị ngưng trệ, hai vị thuốc trên, một thăng một giáng, khiến cho âm dương điều hoà, chứng khát nước tự giải trừ.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] “Chứng khát nước không giảm, chính là tuy dùng thang Bách hợp tẩy rửa nhưng vô ích. Điều này cho thấy bên trong âm khí chưa hồi phục, âm khí chưa hồi phục cũng là do dương kháng (thái quá), v́ thế dùng Qua lâu căn trừ nhiệt trong ngực, Mẫu lệ trừ nhiệt ở hạ tiêu, cũng giống như phương pháp b́nh dương để cứu âm ở bên trên, nhưng ở đây chỉ theo cách điều trị từ bên trong, nên không dùng vị Bách hợp tán thành bột.”
8.百合病变发热者一作: 发寒热, 百合滑石散主之。
8/ Bách hợp bệnh biến phát nhiệt giả nhất tác: Phát hàn nhiệt, Bách hợp Hoạt thạch tán chủ chi.
Phương Bách hợp Hoạt thạch tán
Bách hợp 1 lạng, nướng, Hoạt thạch 3 lạng
Tán thành bột uống với nước, mỗi lần uống 1 phương thốn chuỷ (loại th́a cổ), ngày uống 3 lần, khi hạ lợi nhẹ th́ ngừng uống, nhiệt đă trừ.
{Giải thích}
Điều văn này thảo luận trị pháp bệnh biến phát nhiệt của bệnh Bách hợp. Do tâm huyết phế âm lưỡng hư, hư nhiệt không có vị trí cố định trong mạch, khí huyết loạn ngoài biểu, như lạnh mà không lạnh, như nóng mà không nóng, khi biến thành phát nhiệt là do hư nhiệt uất kết, nhiệt uất ở trên th́ khí tuần hành không thông sướng, thấp tà ở dưới, thấp nhiệt tương hợp nên phát nhiệt, biểu hiện gồm miệng đắng, mạch sác, nước tiểu đỏ.
Điều trị dùng Bách hợp Hoạt thạch tán, tư âm thanh nhiệt, lợi thấp thông uất. Trong phương có vị Bách hợp tư âm tế dương (Bổ âm cứu dương), thanh nhuận tâm phế; Vị Hoạt thạch lợi thuỷ tấm thấp để giải nhiệt.
Hai vị thuốc trên, một là tư âm nhuận táo mà trừ khứ hư nhiệt ở trên; Một là hoạt lợi thuỷ đạo, mà thông thấp uất ở dưới, tân dịch thông tế (được thông và được cứu) th́ nhiệt có thể trừ.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] “Trọng Cảnh thường nói bệnh phát ở dương, người bệnh sẽ rùng ḿnh mà phát nhiệt, là biết biến hoá khi phát nhiệt, nội nhiệt không dừng, có nhiều ở da thịt, mà dương phận cũng nóng, v́ thế dùng vị Hoạt thạch để trừ nóng trong bụng, để bên trong hoà hoăn, và thăng bằng bên ngoài, kèm theo vị Bách hợp thanh phế khí để điều hoà; Không dùng nước suối, v́ nhiệt đă ở ngoài, không muốn quá lạnh để tổn thương âm, nên có câu: Chỉ cần thông lợi nhẹ nhàng là khí được khai thông th́ âm được b́nh và nhiệt cũng được loại trừ.
百合病见于阴者, 以阳法救之; 见于阳者, 以阴法救之。见阳攻阴, 复发 其汗, 此为逆; 见阴攻阳乃复下之, 此亦为逆。
9/ Bách hợp bệnh kiến vu âm giả, dĩ dương pháp cứu chi; Kiến vu dương giả, dĩ âm pháp cứu chi. Kiến dương công âm, phục phát kỳ hăn, thử vi nghịch; Kiến âm công dương, năi phục hạ chi, thử diệc vi nghịch.
{Giải thích}
Bài viết thảo luận về điều trị thuận nghịch của bệnh bách hợp. Bệnh Bách hợp chính là do tâm huyết và phế âm đều hư tổn, âm hư nên sinh nhiệt, nhiệt bên trong gây tổn háo âm khí, như thế bệnh thấy ở âm, khi bệnh nặng th́ liên luỵ đến dương, v́ thế chứng trạng có sự phân biệt khi thấy ở âm và thấy ở dương, như thấy ở dương (dương hư chứng) th́ thường có các chứng trạng như yên lặng, muốn nằm, không thể đi lại, cảm thấy lạnh, không nóng, không thể ăn, không thể ngửi được mùi thực phẩm; Thấy ở âm (âm hư chứng), th́ muốn ăn, ăn uống có lúc ngon miệng, không lạnh, như là nóng, không thể nằm, muốn đi, miệng đắng, mạch vi sác, tiểu tiện màu đỏ, phép điều trị, không ngoài việc dùng âm hoà dương, dùng dương hoà âm, khiến âm dương b́nh bí (thăng bằng) th́ khỏi bệnh.
Nếu thày thuốc không t́m ra kế sách điều trị phù hợp lại dùng nhầm phép phát hăn, th́ dương càng thêm tổn hại. V́ thế nên viết: Đó là nghịch. Cũng như vậy, nếu dùng nhầm phép công hạ, th́ càng tổn hại âm, nên viết, thấy âm công dương, mà lại công hạ, đó cũng là nghịch. Do đó có thể thấy, phương pháp điều trị bệnh Bách hợp chính là thấy dương chứng th́ cứu âm, thấy âm chứng th́ cứu dương, mục đích là để điều hoà âm dương, khôi phục trạng thái âm dương thăng bằng, th́ bệnh tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]” Bệnh thấy ở âm (âm hư), khi bệnh nặng sẽ liên luỵ đến dương, Bệnh thấy ở dương, cuối cùng bệnh tất sẽ về âm. Phép điều trị phù hợp chính là dưỡng dương để thăng bằng với âm, th́ âm được thăng bằng mà dương không bị tổn hại, bổ âm để cứu dương quá mạnh th́ dương được hoà mà âm không tệ. {Nội Kinh}: “Dụng âm hoà dương, dụng dương hoà âm” (用阴和 阳,用阳和阴) dùng âm để hoà dương, dùng dương để hoà âm chính là đạo lư. Nếu thấy dương bị bệnh (dương hư) mà công kích âm, th́ âm bị tổn thương, nếu lại phát hăn, chính là trọng thương dương, cho nên gọi là nghịch, thấy bệnh ở âm (âm hư) mà công kích dương th́ tổn hại dương, và lại công hạ th́ khiến âm suy kiệt nặng nề, nên gọi là nghịch. Bệnh bách hợp là chứng tà khí ít mà hư tổn th́ nhiều, nên không thể trực tiếp công kích bệnh, cũng không thể công kích bên không bị bệnh như vậy.
10.狐惑之为病, 状如伤寒, 默默欲眠, 目不得闭, 卧起不安。 蚀于喉为惑, 蚀于阴为狐, 不欲饮食, 恶闻食臭, 其面目乍赤、乍黑、乍白, 蚀于上部则声喝 一作: 嗄, 甘草泻心汤主之
10/ Cô cảm chi vi bệnh, trạng như thương hàn, mặc mặc dục miên, mục bất đắc bế, ngoạ khởi bất an, thực vu hầu vi cảm, thực vu âm vi cô, bất dục ẩm thực, ố văn thực xú, kỳ diện mục sạ xích, sạ hắc, sạ bạch, thực vu thượng bộ tắc thanh khát nhất tác: Hạ, Cam thảo tả tâm thang chủ chi
Phương thang Cam thảo tả tâm
Cam thảo 4 lạng, Hoàng cầm, Nhân sâm, Can khương đều 3 lạng, Hoàng liên 1 lạng, Đại táo 12 quả, Bán hạ ½ thăng
7 vị thuốc trên dùng 1 đấu nước, nấu c̣n 6 thăng, nấu lại, uống ấm 1 thăng, ngày 3 lần.
[Từ giải]
Trạng như thương hàn: Phát nhiệt ghét lạnh giống như hội chứng thương hàn.
Thực: Nghĩa là hủ thực, ăn ṃn
Thanh hát: Thanh âm khàn
{Giải Thích}
Đây là đoạn văn thảo luận chứng trạng và trị liệu bệnh cô cảm, bệnh này do thấp nhiệt uẩn kết lâu ngày sinh trùng, gây rữa nát (chưng hủ) khí huyết, tổn thương tâm phế, bên ngoài tổn thương cổ họng, cổ họng bị ăn ṃn lở loét, nên tiếng nói bị khàn, có tên là “Cảm” (惑) bệnh; Nếu tổn hại can thận, trùng độc ăn ṃn nhị âm, âm bộ bị ăn ṃn lở loét, gọi là bệnh “Cô” (狐). Nếu nội thương tỳ vị, vận hoá thất thường, nên không muốn ăn uống, ghét mùi thực phẩm, thấp nhiệt ảnh hưởng tâm thần, nên lặng lẽ muốn ngủ, nhưng không thể nhắm mắt, ngồi nằm không yên. Thấp nhiệt gây bệnh, nhiệt bốc nóng, nên mặt mắt đỏ, ảnh hưởng của thấp nên diện mục có lúc đen, thấp nhiệt đi xuống, nên diện mục chợt có màu trắng.
Phép trị liệu, bệnh ăn ṃn ở họng, nên thanh nhiệt giải độc, tả tâm phù chính, điều trị dùng thang Cam thảo tả tâm. Với Cam thảo phù trợ chính khí giải độc, phối Hoàng cầm, Hoàng liên thanh nhiệt táo thấp, hai vị thuốc Can khương, Bán hạ tân táo (cay khô táo) có tác dụng hành khí hoá thấp, Nhân sâm, Đại táo bổ trung kiện vận, để vận hoá thấp. Kết hợp các vị thuốc có tác dụng điều hoà âm dương ở trung tiêu, làm cho tỳ khí kiện vận, khiến thấp độc tự hoá và các chứng được giải trừ.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]: Cô cảm cũng là trùng, không cô cảm nhưng lấy nguyên nhân làm tên bệnh, là muốn mọi người nghĩ đến ư nghĩa của nguyên nhân bệnh. Đại thể đều do thấp nhiệt gây bệnh, nhiều thấp nhiệt độc ở trên, xâm thực vào hầu họng gọi là cảm, nhiệt quá nhiều như khí cảm loạn mà sinh trùng; Độc thiên xuống dưới, xâm thực vào âm là cô, âm thầm độc hại và ẩn giấu nên gọi là cô (con cáo), Thực là có ăn nhưng không thấy h́nh dạng, cũng giống như nhật thực, nguyệt thực vậy.
[Bệnh án]
Họ Giải x x, nam, 43t, miệng, hậu môn, quy đầu xuất hiện màu đỏ, như chứng viêm mới phát tác, tiếp theo là lở loét trên da, lâu ngày không khỏi. Tây y chẩn đoán là “Bạch tắc thị tổng hợp trưng” (hội chứng Behcet), điều trị 70 ngày, chỉ có sự sói ṃn của dương vật là không kiến hiệu. Thiết mạch thấy mạch huyền tế, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng. Biện chứng thuộc âm hư hữu nhiệt, và có thấp tiềm phục ở bên trong.
Bên ngoài da dùng: Trân châu 3g, Thanh đại 3g, Khinh phấn 1g, tất cả tán bột nhuyễn, đắp lên vết loét.
Phương thang để uống: Thục địa 30g, Sơn dược 18g, Đan b́ 10g, Xích linh 10g, Xuyên luyện tử 10g, Sử quân 10g, Đương quy 10g, Xuyên khung 6g. Sắc uống.
Qua điều trị trong và ngoài, không đến 1 tháng th́ khỏi bệnh. (Kinh nghiệm điều trị của Lưu Độ Châu) .
蚀于下部则咽干, 苦参汤洗之。
11/ Thực vu hạ bộ tắc yết can, Khổ sâm thang tẩy chi.
Phương thang Khổ sâm
Khổ sâm 1 thăng
Dùng 1 đấu nước, nấu c̣n 7 thăng, bỏ bă dùng thuốc nước để rửa, ngày 3 lần.
{Giải thích}
Đoạn văn tŕnh bày phương pháp điều trị bên ngoài của bệnh cô cảm ảnh hưởng đến tiền âm. Nếu thấp nhiệt ăn ṃn ở dưới th́ tiền âm bị ngứa, bệnh nặng th́ lở loét; Thấp nhiệt ảnh hưởng lên trên th́ khô họng.
Điều trị dùng thang Khổ sâm tẩy rửa nơi bị lở loét. Khổ sâm có tác dụng thanh nhiệt táo thấp, giải độc sát trùng, thích hợp điều trị chứng tiền âm bị lở loét gây ngứa.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]: “Vùng hạ bộ nhiều chất độc, tổn thương ở huyết nên họng khô, hầu (cổ họng) thuộc dương, yết (咽) thuộc âm, đều dùng Khổ sâm xông rửa, cũng để khứ phong thanh nhiệt sát trùng.
12.蚀于肛者, 雄黄熏之。
12/ Thực vu giang giả, Hùng hoàng huân chi.
Hùng hoàng huân phương (phương thuốc hun bằng Hùng hoàng)
Tán vị Hùng hoàng thành bột, đặt giữa hai viên gạch và đốt chúng hướng về phía hậu môn.
《脉经》云:病人或从呼吸上蚀其咽,或从下焦蚀其肛阴。蚀上为惑,蚀下为狐,狐惑病者,猪苓散主之.
Mạch kinh} vân: Bệnh nhân hoặc ṭng hô hấp thượng thực kỳ yết, hoặc ṭng hạ tiêu thực kỳ giang âm. Thực thượng vi cảm, thực hạ vi cô, cô cảm bệnh giả, Trư linh tán chủ chi.
{Giải thích} Đoạn văn này luận về trị pháp cô bệnh ảnh hưởng đến giang môn. V́ thấp nhiệt sinh trùng, ảnh hưởng hậu âm, gây đau ngứa, giang môn lở loét. Chứng này bao gồm “Bạch tắc thị hợp trưng” (hội chứng Behcet) của thời nay, nếu tiền âm bị tổn hại, có thể đắp bằng Trân châu phấn. Điều trị bằng hun xông Hùng hoàng, vị Hùng hoàng có tác dụng giải độc trừ thấp sát trùng. Phương này điều trị chứng Thốn bạch trùng (Nao trùng) Giun kim, có hiệu quả trị liệu trên lâm sàng.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Lư Văn viết: Hầu giang và tiền âm đều có khiếu thông nhau, là nơi có tân dịch ẩm ướt, nên trùng gây ảnh hưởng ở đấy.
13.病者脉数,无热微烦,默默但欲卧,汗出。初得之三 四日,目赤如鸠眼,七八日目四眦一本此有黄字黑; 若能食者, 脓已成也。赤小豆当归散主之。
13/ Bệnh giả mạch sác, vô nhiệt vi phiền, mặc mặc đăn dục ngoạ, hăn xuất. Sơ đắc chi tam tứ nhật, mục xích như cưu nhỡn, thất bát nhật mục tứ tư nhất bản thử hữu hoàng tự hắc; Nhược năng thực giả, nùng dĩ thành dă. Xích tiểu đậu Đương quy tán chủ chi.
Phương Xích tiểu đậu Đương quy tán
Xích tiểu đậu 3 thăng, ngâm đến khi mọc mầm th́ vớt ra, sấy khô, Đương quy hai vị trên, tán bằng chày, lấy nước uống 1 th́a (phương thốn chuỷ), ngày 3 lần.
[Từ giải]
Vô nhiệt: Là vô hàn nhiệt, tức có ư nói không sợ lạnh phát sốt, ư nói là không có biểu chứng.
Cưu : Tên chim tu hú, mắt có màu đỏ.
Tứ tư: Khoé mắt trong ngoài của hai mắt.
{Giải thích}
Điều văn này thảo luận chứng trạng và điều trị bệnh cô cảm hoá mủ, bệnh không sốt, cho thấy bệnh không ở biểu (bên ngoài).
V́ bên trong quá nhiều thấp nhiệt, quấy nhiễu tâm thần nên mạch sác, phiền muộn nhẹ, yên lặng nhưng muốn nằm; Thấp nhiệt nung nấu bên ngoài, thớ thịt khai mở v́ thế có mồ hôi, thấp nhiệt uất vào huyết phận, không trừ khứ được tích nhiệt, theo đường kinh can đi vào mắt, nên mắt đỏ như mắt chim tu hú; Nếu thấp nhiệt bị bế tắc, lâu ngày không giải, nung nấu máu thịt mà hoá mủ, nên bốn khoé mắt có sắc đen; Khi hoá mủ, bệnh thế có tính giới hạn cục bộ, v́ thế đối với tỳ vị có ảnh hưởng khá nhẹ, v́ vậy bệnh nhân vẫn có thể ăn uống b́nh thường.
Điều trị dùng Xích tiểu đậu Đương quy tán, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết trừ mủ. Trong phương có Xích tiểu đậu thấm thấp thanh nhiệt, giải độc trừ mủ, tiêu tán huyết xấu; Đương quy hoạt huyết dưỡng huyết, trừ hủ sinh tân (loại bỏ những thứ hư hỏng (hủ bại) sinh ra cái mới); Tương thuỷ thanh mát giải nhiệt. Dùng chung 3 vị thuốc, trừ mủ giải độc, thoái nhiệt hoá thấp nên có thể khỏi bệnh.
Vị trí hoá mủ của chứng này, có thể ở hầu bộ, âm bộ, giang môn hoặc phần dưới của đại tràng, hoặc tích mủ ở khoang trước của nhăn cầu. Về phần thời gian là ba bốn ngày hay bảy tám ngày đều chỉ là con số ước lượng, không nên câu nệ, tất cả vẫn phải tuỳ theo t́nh trạng biến đổi của hội chứng bệnh tật.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]: Mạch sác phiền muộn nhẹ nhàng, yên lặng nhưng muốn nằm, nhiệt cũng nhiều ở bên trong. Có các chứng trạng như không sốt xuất mồ hôi cho thấy bệnh không ở biểu. Ba bốn ngày mắt đỏ như mắt chim tu hú, là trong máu của tạng can có nhiệt, theo kinh mạch đi lên mắt. Kinh nóng như thế, th́ tạng nóng là điều có thể hiểu, đó là biểu hiện nhiệt tích tụ không bị trừ khứ, th́ chắc chắn sẽ biến thành ung nhọt. Đến 7,8 ngày bốn khoé mắt có màu đen, cực độ của màu đỏ sẽ biến thành màu đen, là ung nhọt càng nặng. Mà Can Vị cũng là quan hệ hỗ tương thắng phụ (bại). Nếu gan bị nóng, nhiệt tất yếu sẽ xâm nhập vào dạ dày, khi gan trở thành nhọt, dạ dày sẽ nóng cùng với gan, v́ vậy nên có câu “Nhược năng thực giả nùng dĩ thành dă”( 若能食者, 脓已成也) nếu ăn uống được (vị nhiệt nên ăn uống được) là đă có mủ. Hơn nữa, khi thành mủ là hoá độc, khi máu mủ biến thành chất độc th́ không chỉ đặc biệt ảnh hưởng đến dạ dày mà cả gan cũng sẽ bị ảnh hưởng. Xích tiểu đậu và Đương quy là những thuốc có tác dụng loại trừ máu mủ và thấp nhiệt.
Theo đoạn văn này, người có mắt bị bệnh cô cảm (ư nói là mắt đỏ như mắt chim tu hú), người có mắt th́ bị âm dương độc (ư nói khoé mắt đen), chủ yếu là bệnh do thấp nhiệt và chất độc tích tụ, không thối rữa nhưng sinh trùng, sẽ tích tụ và trở thành ung nhọt. Nếu không xuất hiện trên bề mặt cơ thể th́ sẽ xuất hiện ở đường ruột và các tạng, đây cũng là xu hướng tự nhiên của cơ chế bệnh. Ư của Trọng Cảnh là cô cảm và âm dương độc có cùng nguồn gốc nhưng khác cách lưu truyền, gọi là “Đồng nguyên nhi dị lưu”(同源而异流), v́ thế vấn đề này sẽ được thảo luận đặc biệt ở đây?
14.阳毒之为病, 面赤斑斑如锦文, 咽喉痛, 唾脓血。五 日可治, 七日不可治, 升麻鳖甲汤主之。
14/ Dương độc chi vi bệnh, diện xích ban ban như cẩm văn, yết hầu thống, thoá nùng huyết, ngũ nhật khả trị, thất nhật bất khả trị, Thăng ma miết giáp thang chủ chi.
Phương thang Thăng ma miết giáp
Thăng ma 2 lạng Đương quy 1 lạng Độc tiêu sao khứ hăn, 1 lạng Cam thảo 2 lạng Miết giáp một phiến bằng ngón tay cái, nướng Hùng hoàng 0,5 lạng, nghiền.
6 vị thuốc trên dùng 4 thăng nước, nấu c̣n 1 thăng, uống hết một lần, người già và trẻ em chia 2 lần uống, cho xuất mồ hôi.
{Trửu hậu}, {Thiên Kim Phương}: Dương độc dùng thang Thăng ma, không dùng Miết giáp nhưng có Quế; Âm độc dùng thang Cam thảo, không dùng Hùng hoàng.
[Từ giải]
Cẩm văn: Vải lụa có hoa văn nhiều màu sắc.
Người già và trẻ em tái phục: Người già và trẻ em, phân 2 lần uống.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của bệnh dương độc. Dương độc chính là cảm thụ khí dịch lệ hoả độc của trời đất, hoả độc tích tụ bên trong, nhiễu loạn doanh huyết, huyết nhiệt xâm nhập dưới da, nên mặt lốm đốm đỏ như vải hoa (cẩm văn), hoả độc bốc lên ảnh hưởng cổ họng, nên cổ họng sưng đau; Hoả độc ảnh hưởng khí huyết ở lồng ngực hoành cách, huyết nhục hủ nát, nên bệnh nhân thổ ra máu mủ. Từ những điều vừa nêu, thế bệnh của chứng này cực kỳ hung hiểm và biến hoá rất nhanh, nên nhân lúc tà khí chưa mạnh, chính khí chưa suy yếu, chính là thời điểm c̣n dễ dàng điều trị bệnh. Nếu để đến khi chính hư tà thịnh, th́ việc điều trị bệnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, v́ thế nên có câu: “Ngũ nhật khả trị, thất nhật bất khả trị” (五日可治,七日不可治) Năm ngày có thể trị, bảy ngày không thể trị.
Điều trị dùng thang Thăng ma Miết giáp có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết bài nùng (trừ mủ). Trong phương có Thăng ma, Cam thảo thanh nhiệt giải độc, có thể trị chứng đau họng do thời khí dịch bệnh; Đương quy, Miết giáp hoạt huyết lương huyết, tán ứ bài nùng, dưỡng âm thanh nhiệt; Hùng hoàng tân ôn (cay ấm), tán ứ giải độc; Độc tiêu ôn trung giảm đau; Hùng hoàng, Độc tiêu đều là những dược phẩm ấm nóng, có thể trợ lực giải độc cho Thăng ma, Cam thảo, lại có thể hỗ trợ công dụng tán ứ trừ mủ cúa Miết giáp, Đương quy, hợp dụng các vị thuốc để trừ nhiệt giải độc, chữa lành chứng dương độc.
15.阴毒之为病, 面目靑, 身痛如被杖, 咽喉痛。五日可治, 七日不可治, 升麻鳖甲汤去雄黄, 蜀椒主之.
15/ Âm độc chi vi bệnh, diện mục thanh, thân thống như bị trượng, yết hầu thống. Ngũ nhật khả trị, thất nhật bất khả trị, Thăng ma Miết giáp thang khứ Hùng hoàng Độc tiêu chủ chi.
[Từ giải]
Trân đông như bị trượng: Thân thể đau như bị đánh bằng gậy gỗ.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp chứng âm độc. Âm độc là cảm thụ khí âm dương của trời đất, độc tà kết tụ kiên cố bên trong, huyết ứ ngưng trệ, kinh mạch nghẽn tắc không thông nên thân thể đau như bị đánh bằng gậy, dịch bệnh độc tà kết ở cổ họng, nên cổ họng bị đau . “Ngũ nhật khả trị, thất nhật bất khả trị”, ư nghĩa cũng giống như phần trên.
Điều trị dùng thang Thăng ma Miết giáp Hùng hoàng, Độc tiêu, giải độc hoá ứ khu trừ bệnh tà.
[Tuyển chú]
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển}: “ Độc, là nói về tà khí tích tụ không được giải. Dương độc không nhất thiết phải cực nóng, âm độc không nhất thiết phải cực lạnh. Bệnh tà ở dương là dương độc, tà tại âm cũng là âm độc, mà như thế gọi là âm dương, cũng không phải chỉ về tạng phủ khí huyết, nhưng với mặt đỏ lỗ chỗ như vải gấm, đau cổ họng, thổ ra máu mủ, bệnh tà hiện rơ ở biểu th́ gọi là dương; Mặt mắt xanh, thân đau như bị đánh bằng gậy, đau họng, không thổ ra máu mủ, mà bệnh tà ẩn ở trong của biểu th́ thuộc âm. V́ thế đều nên dùng các dược phẩm tân ôn (cay ấm) thăng tán, để phát tán bệnh tà tích tụ chưa được giải trừ, mà cũng cùng dùng với các vị thuốc nhuận mặn lạnh để ổn định tà khí tránh nhiễu loạn chân âm. Năm ngày là thời gian tà khí c̣n nông ở ngoài, phát tán c̣n dễ, nên bệnh có thể điều trị, bảy ngày tà khí xâm nhập đă sâu, nên phát tán khó, v́ thế không thể trị bệnh. Mà hai vị Độc tiêu và Hùng hoàng, dùng trị chứng dương độc, với dương theo dương, là muốn tán xuất nhanh, c̣n dùng hai vị này để trừ âm độc th́ e rằng không thể uy hiếp được âm tà mà âm khí lại c̣n bị tổn hại nữa.”
Lời kết
Bệnh cơ của bệnh bách hợp là âm huyết của tâm và phế đều bị hư tổn, âm hư sinh nhiệt, bệnh khí đi đến trăm mạch, xuất hiện hàng trăm chứng trạng bất định khó đoán. Trị liệu nên dùng trị pháp tư dưỡng âm huyết của tâm phế và thanh trừ hư nhiệt, với phương thang đại biểu là thang Bách hợp địa hoàng. Bệnh này v́ có sự khác biệt do ngộ trị và biến chứng, v́ thế trên phương diện điều trị cũng có sự khác biệt. Như sau khi ngộ hăn, dùng thang Bách hợp Tri mẫu để điều trị; Sau khi ngộ hạ, th́ dùng thang Hoạt thạch đại giả; Sau khi ngộ thổ th́ dùng thang Bách hợp kê tử hoàng. Nếu bệnh Bách hợp xuất hiện chứng khát th́ dùng phương Bách hợp tẩy phương để điều trị; Nếu chứng khát không giảm th́ dùng Qua lâu mẫu lệ tán để điều trị. Bệnh cơ của chứng cô cảm chính là thấp nhiệt sinh trùng, rữa nát khí huyết mà dẫn tới bệnh tật, điều trị chủ yếu là thanh nhiệt giải độc, hoá thấp phù chính. Nếu trùng xâm phạm thượng bộ gọi là “Cảm” âm thanh khàn đục, dùng thang Cam thảo tả tâm điều trị bệnh này, bệnh xâm phạm tiền âm gọi là “Cô”, do niêm mạc bị phá nát, có thể rửa bằng thang Khổ sâm, nếu bệnh ở hậu âm th́ dùng Hùng hoàng để hun xông, Nếu Cô cảm thành mủ, vành mắt màu đen mà có thể ăn uống, dùng Xích tiểu đậu Đương quy tán để thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hoá nùng (mủ)
Nguyên nhân của âm dương độc là do cảm thụ khí bệnh độc của trời đất, có tính truyền nhiễm. Cả hai đều đau họng, nhưng dương độc có chủ chứng là mặt có đốm đỏ như hoa văn trên vải gấm và thổ ra máu mủ, chứng âm độc có các chứng trạng chủ yếu như mặt và mắt có sắc xanh, thân thể đau như bị đánh bằng gậy, dùng thang Thăng ma Miết giáp khứ Hùng hoàng, Độc tiêu để giải độc tán ứ.
Trường Xuân Nguyễn Nghị |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:07:56 | 04. NGƯỢC BỆNH MẠCH CHỨNG TÍNH TRỊ (Bệnh sốt rét)
Chương IV Mạch chứng & điều trị bệnh ngược (sốt rét)
Khái thuyết
Thiên này tŕnh bày biện chứng luận trị bệnh sốt rét, đồng thời căn cứ các chứng trạng khác nhau của bệnh, phân bệnh thành ba loại h́nh: Đơn ngược, Ôn ngược và Mẫu ngược, đồng thời chỉ ra rằng khi bệnh sốt rét (ngược) lâu ngày không khỏi, có thể h́nh thành trưng hà (chứng kết khối) và Ngược mẫu. Trong thiên tổng cộng có 5 điều văn, có 6 phương thang, trong đó bao gồm phụ phương 3 bài. Trong thiên có điều 1 và điều 3 thảo luận về mạch chứng, bệnh cơ, biến chứng và nguyên tắc trị liệu bệnh sốt rét. Các điều 2,4 và 5 là hội chứng và phương dược của bệnh sốt rét. Bộ vị bệnh biến của bệnh sốt rét tuy ở bán biểu bán lư, nhưng thường kèm theo phục tà (bệnh tà tiềm phục) gây bệnh, v́ thế, với bệnh chứng ở kinh Thiếu dương cũng có những khác biệt, cho nên phép điều trị cũng không giống nhau. Như bệnh ở kinh Thiếu dương thường cấm dùng 3 phép là cấm hăn, cấm thổ và cấm hạ, nhưng khi điều trị ngược tật (bệnh sốt rét) th́ vẫn có thể dùng ba phép này.
1.师曰:疟脉自弦,弦数者多热,弦迟者多寒。弦小紧者下之差,弦迟者可温之,弦紧者可发汗、针灸也,浮大者可吐之,弦数者风发也,以饮食消息止之.
1/ Sư viết: Ngược mạch tự huyền, huyền sác giả đa nhiệt, huyền tŕ giả đa hàn. Huyền tiểu khẩn giả hạ chi sai, huyền tŕ giả khả ôn chi, huyền khẩn giả khả phát hăn, châm cứu dă, phù đại giả khả thổ chi, huyền sác giả phong phát dă, dĩ ẩm thực tiêu tức chỉ chi.
[Từ giải]
Huyền tiểu khẩn: Là chỉ h́nh tượng mạch huyền tế mà lại khẩn cấp có lực.
Sai (差): giống như sái (瘥) là khỏi bệnh.
Phong phát: Chỉ về hiện tượng động phong của dương tà.
Tiêu tức: Có ư là quan sát châm chước.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày biện chứng luận trị bệnh sốt rét. Bệnh sốt rét (ngược) là bệnh tà nằm ẩn ở vị trí bán biểu bán lư của kinh Thiếu dương, nếu bệnh tà nhập lư tranh chấp với âm th́ bệnh nhân sợ lạnh; Nếu xuất ra ngoài tranh chấp với dương th́ bệnh nhân phát sốt, v́ thế gọi là chứng hàn nhiệt văng lai (qua lại). Bệnh tà sốt rét ở kinh Thiếu dương, Thiếu dương mạch huyền, nên mạch của sốt rét cũng là mạch huyền. Ngoài ra, do thể chất bệnh nhân khác biệt, hoá hàn hoá nhiệt cũng không giống nhau. Do đó mạch huyền sác thường thấy có nhiệt, mạch huyền tŕ thường thấy có hàn. V́ thế trong điều trị cũng phải có sự khác biệt, không thể lẫn lộn. Như chứng ngược có mạch huyền nhưng khẩn nhẹ, mạch khẩn chủ lư (bên trong) chủ thực chứng, chính là bệnh sốt rét kèm theo ẩm thực tích trệ. Điều trị nên tả hạ tích trệ trong vị tràng, nếu bệnh sốt rét xuất hiện mạch huyền mà tŕ, là bệnh có phản ảnh kèm theo hàn lănh, th́ có thể dùng phép ôn trung tán hàn, nếu mạch sốt rét huyền khẩn mà không huyền tế, chính là biểu hiện của bệnh kèm theo phong hàn, nên dùng phép châm cứu để phát hăn; Nếu bệnh sốt rét có mạch phù đại, là biểu hiện bệnh tại vị trí cao, có thể dùng thổ pháp để bệnh tà vượt lên ra ngoài mà nhân thế lợi đạo (因势利导) Là theo xu hướng phát triển của sự t́nh và hướng dẫn chúng theo hướng thuận lợi. Nếu thấy mạch huyền mà sác, là bệnh ngược mà dương nhiệt bên trong rất nhiều, khiến âm bị tổn thương mà động phong và biến thành “Phong phát” (风发)có ư nghĩa là phát rất nhanh, nhanh như gió, có thể dựa theo phương diện ẩm thực châm chước điều chỉnh như uống nước quả lê, nước mía, ngọt lạnh sinh tân dịch, để tức (dập tắt) phong th́ khỏi bệnh.
Đặc điểm của điều văn này là luận bệnh dựa theo h́nh tượng mạch, và những ư tưởng và trị pháp được căn cứ theo hội chứng khác nhau, đồng thời c̣n dựa theo ư nghĩa của biện chứng mạch.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Bệnh ngược (sốt rét) là bệnh tà của kinh Thiếu dương, huyền là mạch của kinh Thiếu dương, có bệnh tà th́ cũng có mạch, nơi ở của ngược là tại bán biểu bán lư, mà khí của ngược, có khác biệt là lúc nhiều lúc ít. V́ thế bệnh có lúc nóng nhiều, có lúc lạnh nhiều, bên trong (lư) nhiều th́ có thể công hạ, bên ngoài (biểu) nhiều th́ có thể phát hăn, có thể dùng thổ pháp; Có phong theo nhiệt xuất mà không thể tán, nên tuỳ theo mạch mà đề ra phép trị. Họ Từ viết: “Mạch đại giả vi dương, tiểu giả vi âm, khẩn tuy hàn mạch, tiểu khẩn tắc nội nhập nhi vi âm hĩ. Âm bất khả ṭng biểu tán, cố viết hạ chi dũ. Tŕ kư vi hàn, ôn chi vô nghi. Huyền khẩn bất trầm, vi hàn mạch nhi phi âm mạch, phi âm cố khả phát hăn châm cứu dă. Ngược mạch khái huyền, nhi hốt phù đại, tri tà tại cao phận, cao giả dẫn nhi việt chi, cố khả thổ.” (脉大者为阳,小者为阴,紧虽寒脉,小紧则内入而为阴矣。阴不可从表散,故曰下之愈。
迟既为寒,温之无疑。弦紧不沉,为寒脉而非阴脉,非阴故可发汗针灸也。疟脉概弦,而忽 浮大,知邪在高分,高者引而越之,故可吐。)Mạch đại (lớn) là dương, mạch nhỏ là âm, mạch khẩn tuy là mạch hàn, mạch tiểu khẩn nhập vào trong nên thuộc âm mạch, âm không thể tán theo biểu, nên có câu: Dùng phép công hạ th́ khỏi bệnh. Mạch tŕ là hàn, phải dùng ôn pháp là không thể hoài nghi. Mạch huyền khẩn mà không trầm, là hàn mạch nhưng không thuộc âm mạch, không thuộc âm nên cũng có thể phát hăn châm cứu. Mạch của bệnh ngược đều là mạch huyền, mà bỗng nhiên phù đại là biểu hiện của bệnh tà ở trên cao, vị trí cao th́ dẫn vượt lên, v́ vậy có thể dùng phép thổ.
Họ Dụ viết: Trọng Cảnh đă nói mạch sác là nóng nhiều, mà có ư nói rơ: Mạch huyền sác là phong phát (phong phát nhanh chóng), nếu nhiệt liên tục không ngừng, tất sẽ dẫn đến nóng cực độ, mà nhiệt cực độ tất sẽ sinh phong, phong sinh khiến can mộc vũ (lấn át) thổ, và chuyển nhiệt vào vị, hao phí tân dịch, như thế không thể cầu t́m ở thuốc, cần châm chước điều chỉnh ẩm thực để giảm bớt nóng nhiệt, là dùng lê trấp, giá trấp (nước lê nước mía) để sinh tân dịch trị khát, như {Nội Kinh} viết: “Phong dâm vu nội, trị dĩ cam hàn chi chỉ dă” (风淫于内,治以甘寒之旨也。) Bên trong nhiều phong, điều trị dùng vị cam hàn (ngọt lạnh).
病疟,以月一日发,当以十五日愈;设不差,当月尽解:如其不差,当云何? 师曰:此结为癥瘕,名曰疟母,急治之,宜鳖甲煎丸。
2/Bệnh ngược, dĩ nguyệt nhất nhật phát, đương dĩ thập ngũ nhật dũ, thiết bất sai, đương nguyệt tận giải; Như kỳ bất sai, đương vân hà? Sư viết: Thử kết vi chưng hà, danh viết ngược mẫu, cấp trị chi, nghi Miết giáp tiễn hoàn.
Phương Miết giáp tiễn hoàn
Miết giáp 12 phân, nướng Ô phiến (xạ can) 3 phân, đốt, Hoàng cầm 3 phân, Sài hồ 6 phân, Thử phụ 3 phân, ngao Đại hoàng 3 phân Thược dược 5 phân Quế chi 3 phân, Đ́nh lịch 1 phân, ngao Thạch vi 3 phân, khứ mao Hậu phác 3 phân, Cù mạch 2 phân, Tử uy 3 phân Bán nhạ 1 phân Nhân sâm 1 phân Quảng trùng 5 phân ngao A giao 3 phân Xích tiêu 12 phân Khương lang 6 phân, ngao Đào nhân 2 phân
Tán bột 23 vị trên, lấy 3 phân can khương, Mẫu đan 5 phân, khứ tâm, Phong khoà 4 phân, cứu hạ thán 1 đấu, thanh tửu 1 hộc 5 đấu, ngâm than, đợi hết ½ rượu, cho Miết giáp vào, nấu nhừ như cao sơn, vắt lấy nước, cho hết thuốc vào, nấu làm hoàn như hạt ngô đồng, uống lúc bụng đói 7 hoàn, ngày 3 lần. {Thiên Kim Phương} dùng Miết giáp 12 phiến, lại có Hải tảo 3 phân, Đại kích 1 phân, Dao trùng 5 phân, không có hai vị Thử phu và Xích tiêu, dùng Miết giáp nấu hoà với thuốc làm hoàn.
[Từ giải]
癥瘕 (Trưng hà) Kết khối trong bụng, vững chắc không biến đổi, gọi là trưng, lúc tụ lúc tán, không có vật, không có h́nh th́ gọi là hà (瘕).
Ngược mẫu, ngược lâu ngày không khỏi, mà can và tỳ sưng lớn, khí huyết ở dưới cạnh sườn kết thành khối, ấn vào thấy cứng đau, gọi là “Ngược mẫu” (疟母).
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và phương pháp điều trị ngược mẫu (bệnh sốt rét gây ḥn khối tích tụ). Bệnh ngược (sốt rét) tính bằng thời gian tháng, ngày đầu tháng phát bệnh, ngày 15 khỏi bệnh. Dựa vào đâu mà thấy như vậy? Với 5 ngày là một hậu, ba hậu là 1 khí, một khí là 15 ngày. Con người bẩm thụ khí trời hằng ngày, luôn luôn tương thông, v́ thế, khi thiên khí thay đổi th́ nhân khí cũng thay đổi, thay đổi mà khí vượng thịnh th́ không thụ bệnh tà mà tự khỏi bệnh. Nếu bệnh chưa khỏi, th́ đến cuối tháng sẽ khỏi bệnh, đó là do đổi sang một khí tốt, nếu đă qua hai khí mà bệnh vẫn chưa khỏi, là do bệnh tà không suy giảm, bên trong kết với khí huyết can tỳ h́nh thành trưng hà, và có tên là ngược mẫu. Mẫu cũng có ư là già, là chứng ngược (sốt rét) là chứng hữu h́nh với thế bệnh nặng, v́ vậy cần nhanh chóng điều trị để tiêu trừ bệnh. Nếu như để bệnh kéo dài khiến chính khí suy yếu và tà khí thực và sẽ không có năng lực để kháng bệnh. Điều trị bệnh dùng phương Miết giáp tiễn hoàn.
Phương Miết giáp tiễn hoàn có tác dụng hoạt huyết phá ứ, điều hoà doanh vệ. Trong phương có vị Miết giáp nhập vào can, làm mềm vả tiêu trừ kết tụ, khứ bệnh tà và nuôi dưỡng chính khí, kết hợp với Đoán Táo khôi (tro trong ḷ có chứa sắt) tẩm rượu là chủ dược khứ ứ tiêu tích; Đại hoàng, Mang tiêu, Đào nhân, Quế chi trừ nhiệt trong máu, phá ứ huyết, thông khí trệ, Khương lang, Thổ miết trùng, Phong khoà hiệp trợ Tiêu Hoàng, Đào nhân để tiêu kiên phá ứ, Tử uy, Mẫu đơn hành huyết phá huyết, để trừ phục nhiệt trong huyết, Ô phiến, Đ́nh lịch khai tí lợi phế, hợp Thạch vi, Cù mạch để thanh lợi thấp nhiệt kết tụ; Nhân sâm, A giao, Thược dược bổ khí dưỡng huyết, phù chính khí để hoà vinh vệ, Sài hồ, Hoàng cầm, Quế chi, Can khương, Bán hạ, Hậu phác điều chỉnh khí của can đảm, điều trị hàn nhiệt để vận hoá đàm thấp, phối hợp các vị thuốc trên có tác dụng hoạt ứ tiêu trưng hà (ḥn khối), sử dụng đồng thời hai phép công và bổ, để điều chỉnh hàn nhiệt, vận dụng tất cả để tiêu tán khu trừ bệnh ngược (bệnh sốt rét).
{Tuyển chú}
[Y Tông Kim Giám] “Bệnh ngược (sốt rét) tính thời gian bằng tháng, như phát bệnh vào ngày 1, thường khỏi bệnh vào ngày 15, với thời gian 15 ngày là đổi sang một khí, con người bẩm thụ khí của trời, khí trời đổi th́ khí của người cũng đổi, đổi khí vượng thịnh th́ không thụ bệnh tà, nên khỏi bệnh, nếu bệnh không khỏi th́ đến cuối tháng bệnh sẽ được giải trừ, chính là đổi sang một khí vượng thịnh. Nếu như đổi hai khí mà bệnh không khỏi, đó là ngược tà không suy yếu, cùng với khí huyết đàm ẩm của người bệnh đă kết thành trưng hà, có gọi là ngược mẫu, phải nhanh chóng điều trị bệnh, nên dùng Miết giáp tiễn hoàn để công phá trưng hà tích tụ.
[Trương Thị Y Thông] Sự kỳ diệu của thuốc này nằm ở việc nấu Miết giáp với khôi lâm tửu (rượu với tro) cho đến khi nó trở thành cao. Miết giáp không chỉ có tác dụng tiêu trừ tích tụ, mà nước tro ngâm với rượu c̣n có tác dụng loại bỏ tích tụ hiệu quả gấp trăm lần so với ngược mẫu hoàn nấu với giấm.
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Yếu Lược Tập Nghĩa]: Phương này hợp với ba thang Tiểu sài hồ, Quế chi, Đại thừa khí, khứ Cam thảo, Chỉ thực, chính yếu là vị Miết giáp, dùng thêm các dược phẩm trên, để công trục bệnh tà ở bán biểu và kết tụ ở bán lư, không nơi nào là (thuốc) không thể đến “Vô sở bất chí yên” (无所不至焉).
[Bệnh án]
Họ Trương, nam, 34t Bị bệnh sốt rét đă hai năm, với những cơn tái phát. Mùa hè năm nay, bệnh phát đến mùa thu, bệnh vẫn chưa dứt sốt. H́nh thể gầy g̣, nước da vàng vọt, chân tay yếu ớt, bụng chướng, ăn uống kém, tuỵ và lách sưng to, đo 4 cm tính từ xương sườn. Sốt rét bắt đầu bằng chứng ghét sợ lạnh, sau đó là sốt với nhiệt độ cơ thể khoảng 38°C, sau hai giờ bệnh nhân xuất mồ hôi và hạ sốt. Mạch hơi huyền, rêu lưỡi mỏng và trắng. Bệnh tà ở kinh Thiếu dương chưa được giải trừ, bên trong tích tụ đàm thấp, khí trệ và huyết ứ, kết tụ ở hạ sườn phải. Việc điều trị trước tiên phải cắt được cơn sốt rét, sau đó mới chữa trị chứng bĩ tắc tích tụ, đề xuất phương Miết giáp thang gia giảm. Đơn thuốc: Miết giáp 15g, Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ mỗi vị 10g, Thường Sơn, Binh lang và Thảo quả mỗi loại 6 gam Sinh khương 3 lát, Đại táo 2 quả. Uống thuốc trước khi phát cơn sốt rét. Sau khi uống ba thang, bệnh sốt rét đă ngừng. Sử dụng thuốc Miết giáp tiễn hoàn để điều trị các triệu chứng. Uống 30 gam thuốc Miết giáp tiễn hoàn mỗi ngày, chia làm ba lần. Sau khi dùng thuốc được hai tháng, không có cơn đau nào, lách to thu nhỏ xuống c̣n 2 cm dưới xương sườn. Sau khi uống thuốc Miết giáp tiễn hoàn thêm một tháng nữa, bệnh sốt rét về cơ bản đă được kiểm soát và t́nh trạng lách to giảm xuống c̣n 1 cm. Thân thể cường tráng, tăng cường ăn uống, bệnh đă khỏi. Nhưng bệnh nhân vẫn tiếp tục uống Miết giáp tiễn hoàn để đề pḥng bệnh tái phát.
师曰:阴气孤绝,阳气独发,则热而少气烦冤,手足热而欲呕,名日瘅疟。若但热不寒者,邪气内藏于心,外舍分肉之间,令人消铄肌肉。
3/ Âm khí cô tuyệt, dương khí độc phát, tắc nhiệt nhi thiểu khí phiền oan, thủ túc nhiệt nhi dục ẩu, danh viết đan ngược. Nhược đăn nhiệt bất hàn giả, tà khí nội tàng vu tâm, ngoại xá phân nhục chi gian, linh nhân tiêu thước cơ nhục.
[Từ giải] (Giải thích từ)
Âm khí (阴气): Chỉ các vật chất như tân dịch tinh huyết.
Dương khí (阳气): Chỉ về tà nhiệt và nói về cơ năng mạnh quá mức.
Phiền oan (烦寃): Trong ngực phiền muộn không thoải mái
Ngoại xá (外舍): Tà khí lưu giữ ở ngoài
Phân nhục (分肉): Là chỉ phần thịt phía trong da và gần xương, phân biệt với xương; chỉ về cơ nhục. Người xưa gọi cơ nhục ở tầng bên ngoài là bạch nhục, tầng bên trong là xích nhục, xích bạch phân ra, gọi là phân nhục.
Tiêu thước (消铄): Nhiệt tà gây tổn thương gọi là thước (铄), cơ nhục bị cướp đoạt hao ṃn gọi là tiêu (消), 铄và烁 hai chữ giống nhau đều đọc là thước.
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày nguyên nhân, chứng trạng và biến hoá bệnh lư của đan ngược (瘅疟). Ngược bệnh (bệnh sốt rét) thường chỉ về chứng trạng rét hoặc sốt có định giờ, là một loại phản ảnh của chính tà đấu tranh qua lại. Do bệnh tà bên trong uất nóng ở tim, bên ngoài ở giữa da và xương (phân nhục), tà nhiệt trong ngoài đều quá mức, gây tổn háo âm và tổn thương tân dịch, hao ṃn tổn thương cơ nhục, tay chân phát nhiệt. Nhiệt tổn thương chính khí nên thiểu khí và lồng ngực phiền muộn. Nhiệt gây tổn thương vị âm, trong vị (dạ dày) bất an, nên muốn ẩu thổ. Âm khí bị hư tổn, dương khí độc thịnh v́ thế chỉ nóng mà không lạnh (nhiệt mà không hàn), gọi là đan ngược (瘅疟), đan là nhiệt nên cũng gọi là nhiệt ngược (热疟).
Điều trị chứng này, có thể dùng thang Bạch hổ gia Nhân sâm hoặc thang Trúc diệp Thạch cao, hoặc dùng nước lê, nước mía ngọt lạnh để dưỡng âm.
【Tuyển chú】(chú thích tuyển chọn)
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Khi âm khí hư th́ dương khí tất phát (dấy lên), phát là đủ để tổn thương khí và tổn háo tinh thần, khí bị tổn thương nên thiểu khí và lồng ngực không thư thái. Tứ chi là căn bản của chư dương, dương thịnh th́ tay chân nóng, muốn ẩu thổ cũng là do nhiệt xâm phạm vị. Tà khí tàng trong tâm, đan là dương tà, tâm là dương tạng, với dương theo dương, nên bệnh tà ở ngoài phân nhục (dưới da và sát xương), mà khí th́ thông vào trong với tạng tâm, hao ṃn thiêu đốt cơ nhục, cơ nhục là âm, dương cực th́ âm cũng tiêu.
4.温疟者,其脉如平,身无寒但热,骨节疼烦,时呕,白虎加桂枝汤主之。
4/ Ôn ngược giả, kỳ mạch như b́nh, thân vô hàn đăn nhiệt, cốt tiết đông phiền, thời ẩu, Bạch hổ gia quế chi thang chủ chi.
Phương thang Bạch hổ gia Quế chi
Tri mẫu 6 lạng Cam thảo 2 lạng, nướng Thạch cao 1 cân Cánh mễ 2 hợp Quế chi bỏ vỏ 3 lạng.
Cắt nhỏ các vị thuốc trên, lấy 20g, dùng 1 chén nhỏ nước, nấu c̣n 8 phân, bỏ bă, uống khi thuốc c̣n ấm, xuất mồ hôi th́ khỏi bệnh
[Từ giải]
Đông phiền (疼烦) phiền là có ư là rất nặng, ở đây là rất đau.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp chứng ôn ngược (một loại h́nh sốt rét). Hội chứng này là ôn nhiệt kết tụ bên trong, nhiệt thịnh bên trong, v́ thế thân thể không lạnh nhưng chỉ nóng. Nhiệt gây tổn thương vị (dạ dày), nên khí nghịch lên, nên lúc nào cũng nôn, nhiệt tà nung nấu bên trong, tấu lư (da thịt) không kín đáo vững vàng, cảm thụ hàn lănh bên ngoài, lưu lại trong khớp xương, nên xương khớp rất đau. “Kỳ mạch như b́nh” (其脉如平), là chỉ về mạch của bệnh ôn ngược (sốt rét) nhưng không huyền, mà mạch cũng như b́nh thường. Chứng này chính là nhiệt bên trong nhiều, kèm theo biểu hàn (bên ngoài lạnh), là chứng ôn ngược nhiệt đa hàn thiểu (nhiệt nhiều lạnh ít), cung cấp chi tiết để dễ phân biệt hỗ tương với chứng đan ngược (nhiệt ngược). Điều trị dùng thang Bạch hổ gia Quế chi, bên trong có tác dụng thanh nhiệt sinh tân dịch, bên ngoài giải biểu tán hàn. Thanh trừ được nội nhiệt là ngưng ẩu thổ, giải tán biểu hàn để xương khớp hết đông phiền (đau đớn khó chịu). Chứng ôn ngược và đan ngược đều thuộc hội chứng nhiệt thịnh, nhưng lại có khác biệt. Ôn ngược là chứng lư nhiệt kèm theo ngoại hàn đ́nh trệ ở khớp xương, chủ yếu là khi phát sốt th́ ẩu thổ, xương khớp bứt rứt khó chịu, v́ thế dùng thang Bạch hổ gia Quế chi để thanh trừ nội nhiệt, giải tán biểu tà. Chứng Đan ngược chính là âm khí cô tuyệt (cô lập không được hỗ trợ), dương khí độc phát (dấy lên một ḿnh), với t́nh trạng chỉ có nhiệt mà không có hàn, nên thiểu khí và ngực buồn bực, tay chân nóng buồn nôn, chủ yếu là hao ṃn da thịt, v́ thế dùng thang Bạch hổ gia nhân sâm hoặc thang Trúc diệp Thạch cao có tác dụng thanh nhiệt ích khí sinh tân dịch. Như vậy có thể thấy t́nh trạng bệnh của chứng ôn ngược khá nhẹ, chứng đan ngược bệnh t́nh khá nặng. Ngoài ra, thang Bạch hổ gia Quế chi có phần ghi chú “Ôn phục hăn xuất dũ” (温服汗出 愈) Uống thuốc ấm nóng để xuất mồ hôi th́ khỏi bệnh, Có thể hiểu, chứng ôn ngược tuy rất nóng, nhưng thường không có mồ hôi, hoặc mồ hôi xuất ra không triệt để, v́ thế biểu tà c̣n chưa thông thấu ra ngoài, đó chính là điểm khác biệt.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Bệnh ôn ngược, tà khí tàng trữ trong thận, đến Xuân Hạ th́ bắt đầu phát bệnh, là hội chứng phục khí xuất ra ngoài, hàn lănh tồn trữ lâu nên biến thành nhiệt, v́ thế cũng không gây lạnh. Mạch như b́nh thường nên bệnh không đột phát, v́ thế mạch cũng như b́nh thường. Ẩu thổ khi xương khớp đau nhức là nhiệt theo thận xuất ra ngoài kết hợp với dương minh. Thang Bạch hổ ngọt lạnh có tác dụng trừ nhiệt, Quế chi thuận thế thông đạt ra ngoài để giải tán biểu tà.
[Bệnh án 1]
Họ Thạch, nữ, 38 tuổi. Trong 10 ngày sốt rét xảy ra 5 lần. Lúc đầu hơi lạnh, sau đó sốt cao, nhiệt độ cơ thể 40°C, khát nước, khó chịu và đổ mồ hôi, thậm chí mê sảng, đau khớp khắp người, mạch hồng sác, rêu lưỡi khô vàng, sau sốt từ 3 đến 5 giờ. Đổ mồ hôi đầm đ́a, hạ sốt, theo {Kim Quỹ} đây là chứng Ôn ngược, bệnh ở ba kinh dương. Điều trị bằng thang Bạch hổ gia Quế chi gia giảm.
Xử phương: Thạch cao 40g, Tri mẫu 12g, Cam thảo 4g, Quế chi 6g, Sài hồ 12g, Hoàng cầm 10g, Thường sơn 6g, Điềm trà 6g.
Nên uống thuốc trước khi phát bệnh 2 giờ, uống liền 3 thang, bệnh ngừng phát tác. Sau đó điều trị bằng phép hoà giải Thiếu đương đề pḥng bệnh tái phát.
[Bệnh án 2]
Họ Trương x x, nữ, 32 tuổi, Vào ngày thứ 9 của thai kỳ, sản phụ lần đầu ra ngoài cảm thấy gió lạnh, đột nhiên có cảm giác ớn lạnh và run rẩy, sau đó đổ mồ hôi ở phần trên cơ thể, khó chịu và nóng bức nhưng không có mồ hôi ở phần dưới cơ thể. Lạnh thấu xương, miệng khô khát nước, liên tục đ̣i uống nước. Người bệnh sắc mặt đỏ bừng, lưỡi hồng thẫm, rêu trắng mỏng, mạch phù ấn vào mạch nổi lớn (mạch đại). Tôi hỏi: Bạn có đau đầu không? Câu trả lời là: Đau ở bên trái. Tôi cũng hỏi, có phải là sợ gió không? Đáp là ở lưng
Quan sát toàn diện hội chứng mạch cho thấy trong cơ thể có phục nhiệt, sau khi sinh khí huyết suy yếu, huyết nhược khí tận, nên phong tà xâm nhập gây bệnh dễ dàng như “Thụ như tŕ hư” (受如持虚) như xếp đồ đạc vào chỗ trống . Nếu dương khí uất ở phần trên, khác với phần dưới, th́ chi dưới sẽ cảm thấy lạnh, nóng trong cơ thể sẽ làm tổn thương dịch, do đó sẽ khát và muốn uống nước; Bệnh mới g̣ bó bên ngoài nên lưng lại sợ lạnh, và mạch lại phù.
Xử phương: Quế chi 10g, Bạch vi 10g, Ngọc trúc 10g, Thạch cao sống 30g, Tri mẫu 10g, Cam thảo 6g, Gạo tẻ 1 nắm to.
(Kinh nghiệm điều trị của Lưu Độ Châu).
疟多寒者,名曰牡疟,蜀漆散主之。
5/ Ngược đa hàn giả, danh viết mẫu ngược, Độc tất tán chủ chi.
Phương Độc tất tán
Độc tất rửa hết vị tanh Vân mẫu Long cốt lượng bằng nhau
Tán thành bột, trước khí phát bệnh uống 2g với nước. Chứng ôn ngược gia Độc tất 0.5 phân, khi bệnh phát tác uống nhất tiền chuỷ
[Từ giải]
Mẫu ngược: Bệnh tà hàn khí đàm ẩm ẩn phục ở khe tim mà không thấu lộ ra ngoài, v́ thế chỉ thấy chứng trạng hàn lănh, trường hợp nặng chỉ thấy hàn không thấy nhiệt. Tâm là “Mẫu tạng” (牡脏), nên viết là mẫu ngược.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng mẫu ngược (牡疟) là một loại h́nh sốt rét. Do khí lạnh vô h́nh và đàm ẩm hữu h́nh, ẩn phục ở tâm, dương khí không thấu lộ vào cơ biểu, nên nhiệt ít hàn nhiều, hoặc chỉ hàn mà không nhiệt, tâm dương bị cản trở, gọi là mẫu ngược.
Điều trị dùng Độc tất tán, có tác dụng khứ đàm, hỗ trợ dương khí, phù trợ chính khí. Trong phương có Độc tất trừ đàm, tiệt ngược (trị dứt sốt rét), nôn ra đàm trọc để dương khí vượt phát, là vị thuốc điều trị chủ yếu của chứng ngược; Long cốt trấn tĩnh an thần, thu liễm tân dịch, giảm bớt lực vượt lên quá mănh liệt của Độc tất; Vân mẫu tính ấm áp, khứ đàm hoá thấp, dùng nước để hoà vị, hỗ trợ tác dụng thổ đàm ngoan cố của Độc tất. Chư dược thích hợp, trừ khứ âm tà, tuyên phát dương khí, th́ chứng mẫu ngược có thể khỏi. Khi sử dụng phương dược này, trước khi phát bệnh (từ 1~2 giờ) dùng nước tương (nước chua lên men) uống thuốc. Nếu uống thuốc quá sớm th́ không thu được hiệu quả, nếu uống quá chậm th́ ngược (sốt rét) lại phát tác, mà càng tệ hại hơn, v́ vậy nên uống thuốc trước khi bệnh phát tác là thích hợp. Ngoài ra để giảm nhẹ, tránh ẩu thổ sau khi uống thuốc, có thể chế Độc tất với giấm hoặc sao Độc tất với nước là tốt nhất.
{Tuyển chú}
[Trương Thị Y Thông] Tà khí tàng trữ ở trong tim th́ chỉ nóng mà không lạnh, chính là chứng đan ngược (瘅疟), tà khí tàng phục ở thận th́ lạnh nhiều mà nóng ít, là chứng tẫn ngược (牝疟). Tà khí phục kết th́ dương khí không đi ra ngoài, v́ thế bên ngoài lạnh; Tân dịch tích tụ thành đàm, chính là lạnh nhiều, khác với {Tố Vấn} hội chứng nóng nhiều lạnh ít của kinh thiếu âm. Dùng phương Độc tất uống với nước tương để ẩu thổ giúp dương khí phát việt (vượt phát); Long cốt củng cố thu liễm âm dịch; Vân mẫu nâng dương khí từ dưới lên mang ư nghĩa của núi xuyên qua mây và sương mù. Mà Vân mẫu là gốc của Dương khởi thạch, tính ấm chủ thăng lên, có khả năng khứ thấp vận đàm rất mạnh, gia thêm một lượng nhỏ Độc tất th́ có thể trị chứng thấp ngược của kinh Thái âm. Dưới phương thang có chú thích: “Thấp ngược, gia Độc tất bán phân” (湿疟,加蜀漆半分) chứng thấp ngược gia Độc tất ½ phân, mà bản in lại in nhầm là chứng ôn ngược, là một sai lầm lớn. Trương đă ghi chú chuẩn bị một đoạn văn để tham khảo.
Phụ {Ngoại đài bí yếu}phương:
[Thang Mẫu lệ] trị Mẫu ngược.
Mẫu lệ 4 lạng, rang Ma hoàng bỏ đốt, 4 lạng Cam thảo 2 lạng Độc tất 3 lạng
4 vị trên, dùng 8 thăng nước nấu trước 2 vị Độc tất và Ma hoàng, vớt bỏ bọt, c̣n 6 thăng, bỏ hết thuốc c̣n lại vào nấu c̣n 2 thăng, uống ấm 1 thăng, nếu ẩu thổ th́ không uống thêm.
【Giải thích】 Phương này theo Vưu Tại Kính viết: Có liên hệ Tôn Lỳ và những người khác thời Tống, có ư nghĩa của Độc tất tán, mà lực công phá bên ngoài khá mănh liệt. Họ Triệu viết: “Mẫu lệ nhuyễn kiên tiêu kết, Ma hoàng phi độc tán hàn, thả khả phát việt dương khí, sử thông vu ngoại, tán kết dương thông, kỳ bệnh tự dũ” (牡蛎软坚消结,麻黄非独散寒,且可发越阳气,使通于外。结散阳通,其病自愈) Mẫu lệ có tác dụng làm mềm và tiêu kết tụ, Ma hoàng không chỉ có tác dụng tán hàn mà c̣n thúc đẩy dương khí vượt phát thông ra ngoài. Tán kết tụ và thông được dương th́ bệnh tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] “Mẫu ngược là do bệnh tà quấy nhiễu tâm bào, khiến cho quân hoả không thể thông đạt ra ngoài, dùng Mẫu lễ lạnh mặn có tác dụng nhuyễn kiên tán kết, kèm theo có khả năng an thận mà giao với tâm là quân hoả, dựa vào Độc tất thổ kỳ bệnh tà, gia Ma hoàng, Cam thảo để hỗ trợ quân hoả thông đạt ra ngoài.”
[Thang Sài hồ khứ Bán hạ gia Qua lâu] Trị chứng ngược (sốt rét) khát nước, cũng trị chứng Lao ngược.
Sài hồ 8 lạng Nhân sâm Hoàng cầm Cam thảo mỗi vị 3 lạng, Qua lâu căn 4 lạng Sinh khương 2 lạng Đại táo 12 quả.
7 vị thuốc trên dùng 1 đấu 2 thăng nước, nấu c̣n 6 thăng, bỏ bă, tiếp tục nấu c̣n lại 3 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày uống 2 lần.
[Từ giải]
Lao ngược (劳疟) Là bệnh sốt rét lâu ngày không khỏi, chính khí bị tổn hại, gọi la Lao ngược.
【Giải thích】Điều văn này thảo luận phương pháp sử dụng thang Sài hồ khứ Bán hạ gia Qua lâu, điều trị bệnh sốt rét khát nước và bệnh sốt rét lâu ngày (Lao ngược) không khỏi. Từ Trung có thể cho rằng: “Ngược tà diệc tại bán biểu lư, cố nhập nhi dữ âm tranh tắc hàn, xuất nhi dữ dương tranh tắc nhiệt, thử Thiếu dương chi tượng dă…..Sở dĩ Tiểu sài hồ diệc vi trị ngược chủ phương. Khát dĩ Bán hạ dịch Qua lâu căn, diệc trị Thiếu dương thành pháp dă, công bổ kiêm cố diệc chủ lao ngược” (疟邪亦在半表里,故入而与阴争则寒,出而与阳争则热,此少阳之象也……。所以小 柴胡亦为治疟主方。渴以半易易栝楼根,亦治少阳成法也。攻补兼施,故亦主劳疟)Bệnh sốt rét ở bán biểu lư, nhập vào trong tranh với âm th́ lạnh (rét), xuất ra ngoài tranh với dương th́ nhiệt (sốt), cũng là h́nh tượng bệnh ở kinh Thiếu dương…. V́ thế thang Tiểu sài hồ cũng là phương dược chủ trị bệnh sốt rét. Khát nước th́ thay Bán hạ bằng Qua lâu căn, cũng là phương pháp điều trị bệnh ở kinh Thiếu dương. Công bổ kiêm dụng, nên cũng chủ trị chứng sốt rét lâu ngày (lao ngược) chính khí đă bị hư tổn. Trong phương có Sài hồ, Hoàng cầm để hoà giải Thiếu dương mà thấu tà thanh nhiệt, Nhân sâm, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo bổ tỳ sinh tân dịch, điều hoà doanh vệ, phù hộ chính khí, chống cự bệnh tà, Qua lâu sinh tân dịch trừ khô táo, thanh nhiệt trị khát. V́ phương này có tác dụng bổ khí và âm, nên có thể dùng điều trị chứng sốt rét lâu ngày không khỏi, c̣n gọi là chứng “Lao ngược”.
[Tuyển chú]
[Trương Thị Y Thông] Khát là tân dịch ở Dương minh suy kiệt, mà tân dịch dương minh suy kiệt là do mộc hoả Thiếu dương cướp đoạt tân dịch ở dạ dày mà ra, v́ thế bệnh sốt rét tiến thoái (tiến ra biểu nhập vào lư) ở Thiếu dương, nên thang Tiểu sài hồ cũng tiến thoái để điều trị. Đến nguyên nhân của chứng sốt rét lâu ngày (lao ngược), cũng do mộc hoả mạnh dẫn đến tân dịch suy mà khát nước, nên điều trị bệnh cũng chính là dùng phương này.
[Sài hồ Quế Khương thang] Trị chứng sốt rét lạnh nhiều nóng ít, hoặc chỉ rét mà không sốt. Uống 1 thang kiến hiệu như thần
Sài hồ ½ cân Quế chi 3 lạng bỏ vỏ Can khương 2 lạng, Qua lâu căn 4 lạng Hoàng cầm 3 lạng Mẫu lệ 3 lạng nướng Cam thảo 2 lạng chích.
7 vị thuốc trên, dùng 1 đấu 2 thăng nước, nấu c̣n 6 thăng, bỏ bă, nấu c̣n 3 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày 3 lần. Uống lần đầu hơi khó chịu, uống tiếp xuất mồ hôi th́ khỏi bệnh.
【Giải thích】
Tật bệnh, mùa hè tổn thương v́ nắng nóng, doanh âm bị tổn hại, lại cảm thụ gió mát trong mùa thu. Có liên quan đến vệ phận bị tổn thương. Doanh vệ lưỡng thương làm cho âm dương mất điều hoà, v́ thế hàn nhiều nhiệt ít hoặc chỉ lạnh mà không nhiệt.
Điều trị dùng thang Sài hồ Quế Khương. Quế chi hoà biểu của Thái dương, Can khương có tác dụng ấm áp bên trong kinh Thái âm, Qua lâu căn tư bổ tân dịch, nhuyễn kiên hoà âm; Sài hồ sơ tiết lợi can đảm, để giải bệnh tà ở kinh Thiếu dương, Hoàng cầm thanh (mát) đảm để chấn chỉnh nhiệt của tam tiêu; Cam thảo hoà trung để điều hoà âm dương. Cảm giác khó chịu nhẹ sau khi uống thuốc là do cơ chế dương phục cũng chính là biểu hiện của thuốc đă đúng bệnh. Lần uống thuốc kế tiếp bệnh nhân xuất mồ hôi là biểu hiện của tam tiêu thông đạt, chính khí tuần hành, tân dịch phân bố và khỏi bệnh.
[Tuyển chú
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú] Cũng là bệnh ngược (sốt rét) là nói về chứng lạnh nhiều, nếu nói về loại mẫu ngược, luận theo thuốc th́ không phải như vậy. Chứng mẫu ngược bệnh tà ở dưới tim, là phong hàn thấp tí ở cơ biểu. Cơ biểu hành dương để ấm áp da thịt, chứng tí khiến dương khí không thông ra ngoài, lại uất phục ở vinh huyết, cũng là bộ phận bán biểu bán lư. Dương hoá khí nhiệt, huyết trệ thành ứ, hiện rơ tại chỗ, khi vệ khí vận hành 25 độ th́ phát bệnh, bệnh tà ở doanh phận nên không thể xuất ra ngoài, nên bệnh tí của vinh phận không không xuất ra mà tương tranh với dương, v́ thế nên sốt nhẹ hoặc không sốt. V́ vậy dùng Sài hồ là quân dược để phát việt dương uất, các vị Quế chi, Can khương là tá dược để giải tán chứng tê ở cơ biểu; Qua lâu căn, Mẫu lệ là thần dược để trừ nhiệt bị đ́nh lưu, tiêu huyết ứ , tá dược có Hoàng cầm hỗ trợ Sài hồ trị chứng bán biểu bán lư; Cam thảo điều hoà các vị thuốc, cũng điều hoà âm dương, xuất mồ hôi là biểu hiện bệnh tà tê liệt đă giải, huyết nhiệt đă hành và khỏi bệnh.
[Bệnh án]
Vương mỗ, 40 tuổi, khám lần 1 16/5/1980, hàn nhiệt văng lai, hàn nhiều nhiệt ít, phát cách nhật, thổ ra rất nhiều đàm, miệng đắng, tức ngực, trống ngực, tiết tả, nước tiểu ít. Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền tế. Đây là chứng hàn ngược. Nên dùng thang Sài hồ Quế chi Can khương gia vị: Sài hồ Quế chi Can khương Hoàng cầm Cam thảo Binh lang Thanh, Trần b́ mỗi vị 10g Qua lâu căn Thảo quả Phục linh Bạch truật mỗi vị 12g Mẫu lệ nướng 30g Thường sơn 6g. Tái chẩn Ngày 21/5: Uống 2 thang trên. Hết nóng lạnh. Thổ ra rất nhiều đàm dăi, trống ngực, hay mơ, lưỡi trắng, mạch phù hoăn. Chính là biểu hiện của huyết bất túc và tâm dương suy nhược. Nên dùng thang Quế chi gia Long cốt Mẫu lệ gia vị. Xuyên Quế chi Chích Cam thảo Sinh khương mỗi vị 10g Bạch thược Hồng táo sinh Bạch truật Táo nhân Phục linhmỗi vị 12g Long cốt Mẫu lệ mỗi vị 30g Viễn chí Can khương Ngũ vị tử Tế tân mỗi vị 6g.
31/5 chẩn lần 3; Bện đă hết, chỉ c̣n thân thể hư nhược, thiếu máu, mạch tế nhược, lưỡi trắng nhạt, c̣n lại ăn ngủ c̣n tốt, có thể điều lư bằng thang Quy tỳ.
Lời kết
Thiên này thảo luận về mạch chứng, cơ chế bệnh và trị pháp của bệnh ngược (sốt rét). Biện chứng bệnh ngược phân thành các chứng ngược như: Đan ngược, Ôn ngược, Mẫu ngược, Ngược mẫu, Hàn thấp ngược, Lao ngược, Doanh vệ lưỡng thương ngược. Như chứng Đan ngược chỉ sốt mà không rét, nên thanh nhiệt sinh tân, điều trị bằng thang Bạch hổ gia Nhân sâm hoặc thang Trúc diệp Thạch cao; Chứng Ôn ngược sốt nhiều rét ít nên thanh nhiệt sinh tân, giải tán biểu tà, dùng thang Bạch hổ gia Quế chi, Chứng Mẫu ngược rét nhiều sốt ít, nên khứ đàm thông dương, Độc tất tán chủ trị bệnh này. Bệnh sốt rét lâu ngày không khỏi, xâm nhập huyết lạc, kết thành ḥn khối gọi là “Ngược mẫu” (疟母) dùng trị pháp hoạt huyết hoá ứ, điều hoà doanh vệ, dùng Miết giáp tiễn hoàn chủ trị bệnh này; Nếu chứng mẫu ngược kèm theo rất nhiều hàn thấp, có thể dùng thang Mẫu lệ, để vượt phát dương uất, khứ đàm tiêu ẩm; Bệnh ngược phát khát, hoặc bệnh lâu ngày thành chứng Lao ngược, có thể dùng thang Sài hồ khứ Bán hạ gia Qua lâu căn, bổ tỳ sinh tân dịch, giải nhiệt nhuận táo; Bệnh ngược doanh vệ lưỡng thương, rét nhiều sốt ít, hoặc chỉ rét không sốt, có thể dùng thang Sài hồ Quế Khương, ôn thông dương khí, điều hoà âm dương ở can và tỳ.
Trường Xuân Nguyễn Nghị |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:12:21 | 05 TRÚNG PHONG
Thiên thứ 5
Mạch chứng và điều trị bệnh trúng phong lịch tiết.
Khái thuyết
Thiên này thảo luận biện chứng luận trị bao gồm hơn 10 loại bệnh về trúng phong và bệnh lịch tiết (c̣n gọi là chứng tí) (痹证) hay đau khớp. Trọng điểm của thiên này là tŕnh bày hội chứng và trị pháp của chứng trúng phong và bệnh lịch tiết, cũng biện chứng luận thuật các chứng như Ẩn chẩn (瘾疹), tức ngực thở ngắn (胸满短气), Than giản (瘫痫) đột quị, cuồng (狂), đầu phong (头风) đau đầu lâu ngày, cước khí (脚气) bệnh ghẻ khe ngón chân, âm phi (瘖痱) liệt tứ chi, huyễn vựng (眩晕) chóng mặt mất thăng bằng. Lịch phong (厉风). Trong thiên có 10 điều văn, có 12 phương dược, trong đó có 5 phụ phương. Trong thiên này từ điều thứ nhất đến điều thứ 3 tŕnh bày cơ chế phát bệnh, mạch chứng và chẩn đoán phân biệt của bệnh trúng phong. Từ điều 4 đến điều 7 và điều 9 tŕnh bày chuyên sâu về bệnh lư và mạch chứng của bệnh lịch tiết (bệnh xương khớp), điều thứ 8 và thứ 9 thảo luận về những liên quan đến hội chứng và điều trị bệnh lịch tiết. Các bệnh khác như phong phi (trở ngại về tinh thần và vận động) hội chứng và điều trị một số loại bệnh được tŕnh bày riêng trong phụ phương. V́ trúng phong, lịch tiết gồm hơn 10 loại bệnh, phần lớn là bệnh do phong và thấp tà gây bệnh, phần lớn là hoạt động không b́nh thường của tứ chi, nên hợp lại thảo luận chung trong cùng một thiên.
Bệnh trúng phong lại có tên là thốt trúng, nguyên nhân do ngoại cảm phong tà, hoặc đột nhiên phát bệnh nhanh chóng, bệnh chứng phức tạp, có đặc trưng phong tính thiện hành số biến (di động bất định, biến hoá đa đoan), nên gọi là trúng phong. Chứng trạng thường thấy đột nhiên hôn mê ngă ra, bất tỉnh nhân sự, sau đó xuất hiện các chứng như bán thân bất toại, méo lệch mắt miệng. Liên quan đến nguyên nhân của chứng trúng phong, phân ra có ngoại phong, nội phong và hư phong, ngoại phong là chỉ về sau khi các bệnh tà phong, hàn, táo, hoả từ bên ngoài xâm nhập cơ thể, hoặc kích động nội phong, hoặc hỗ trợ đàm hoả, hoặc làm cho kinh lạc bị tê liệt mà thành bệnh chứng trúng phong. Nội phong là đàm hoả phát ở bên trong, v́ hoả nhiệt có thể động phong, có thể cô đặc dịch biến thành đàm, làm tê liệt trở ngại mạch lạc, mà thành bệnh trúng phong. Hư phong là chỉ chứng huyết hư sinh phong, hoặc mạch lạc trống rỗng hư không, phong tà nhân cơ hội xâm nhập, lưu lại gây tê liệt, cũng thành bệnh trúng phong. Bệnh cơ của trúng phong, chính là kinh lạc huyết mạch bị tắc nghẽn không thông, khí huyết không thể vận hành dễ dàng thông sướng, nên cân mạch không được nuôi dưỡng v́ thế xuất hiện các chứng như liệt nửa người (bán thân bất toại), miệng mắt méo lệch. Đến như chứng Tí là chỉ về ba khí Phong Hàn và Thấp cùng xâm phạm cơ thể, tí xâm nhập cơ nhục hoặc khớp xương, xuất hiện các hội chứng như đau nhức, nặng nề và tê ở cơ nhục và xương khớp. Bệnh Lịch tiết thường thấy đau nhức truyền tải “Biến lịch”(遍历) ở khớp, bệnh thế phát triển khá nhanh. Nguyên nhân bệnh trước tiên là can thận không đầy đủ, sau đó là phong hàn thấp xâm nhập cơ thể, lưu lại trong khớp, phát sinh khớp sưng lớn và đau nhức.
1/ 夫风之为病,当半身不遂,或但臂不遂者,此为痹。脉微而数,中风使然。
1/ Phu phong chi vi bệnh, đương bán thân bất toại hoặc đăn tí bất toại giả, thử vi tí. Mạch vi nhi sác, trúng phong sử nhiên.
[Từ giải] ( Giải thích từ)
Phong chi vi bệnh (风之为病): Là nói về chứng trúng phong.
Bất toại (不遂): Không thể hoạt động theo ư ḿnh
Tí (痹): Chỉ cơ chế bệnh của Trúng phong, ở kinh mạch bị nghẽn tắc trở ngại.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng của chứng trúng phong, đột quị. Bệnh nhân trúng phong đầu tiên là chính khí hư nhược, vệ dương (dương bảo vệ bên ngoài) không đầy đủ, nên mạch vi nhược (nhỏ và yếu). Âm huyết không đủ nên can phong dễ động, phong táo hoá hoả, hoặc ngũ chí (nộ, tư, hỉ, bi, khủng) hoá hoả, nên mạch sác (nhanh). Hoả nhiệt biến dịch thành đàm, tắc nghẽn kinh mạch, bế tắc không thông, khí huyết không thể vận hành dễ dàng nên cân mạch không được nuôi dưỡng, v́ thế nếu bệnh biến nhẹ sẽ xuất hiện liệt một bên cánh tay; Nếu bệnh biến khá nặng th́ một bên chi thể không thể vận động tuỳ ư, mà thành chứng liệt nửa người.
[Tuyển chú]
[Trương thị Y Thông] “Liệt nửa người, phong trúng một bên, nhưng liệt cánh tay, phong gây liệt ở trên, phong xâm nhập, ngưng sáp ở vinh vệ, kinh mạch không thể vận hành, cung cấp không thuận lợi cho gân xương cơ nhục, nên gọi là tí (tê liệt), v́nh bèn cải thành vi (mạch vi chủ hư), vệ bèn cải thành sác (sác chủ nhiệt), vi là vi của dương (là dương hư), sác là lửa cháy mạnh của phong.
[Y Môn Pháp Luật] Cánh tay không nâng lên được là chứng liệt (tí) Liệt nửa thân dưới là phong xâm nhập vào cánh tay trước tiên, xâm nhập cũng c̣n nông.Theo truyền thuyết tê một ngón tay cái, nội trong 3 năm nhất định sẽ trúng phong, đây đúng là một thuyết hời hợt vô căn cứ.
2/寸口脉浮而紧,紧则为寒,浮则为虚,寒虚相搏,邪在皮肤。浮者血虚, 络脉空虚,贼邪不泻,或左或右,邪气反缓,正气即急,正气引邪,喎僻不遂。 邪在于络,肌肤不仁;邪在于经,即重不胜;邪入于府,即不识人;邪入于藏,舌即难言,口吐涎。
2/ Thốn khẩu mạch phù nhi khẩn, khẩn tắc vi hàn, phù tắc vi hư, hư hàn tương bác, tà tại b́ phu. Phù giả huyết hư, lạc mạch không hư, tặc tà bất tả, hoặc tả hoặc hữu, tà khí phản hoăn, chính khí tức cấp, chính khí dẫn tà, oa tịch bất toại. Tà tại vu lạc, cơ phu bất nhân; Tà tại vu kinh, tức trọng bất thắng; Tà nhập vu phủ, tức bất thức nhân; Tà nhập vu tạng, thiệt tức nan ngôn, khẩu thổ tiên.
[Từ giải]
Thốn khẩu: Chỉ về mạch thốn quan xích ở hai tay trái và phải.
Tặc tà bất tả: Tặc tà, chỉ về tà khí làm hại cơ thể, như phong tà, hàn tà. Bất tả là chỉ về tà khí lưu lại trong kinh lạc huyết mạch, mà không thể bài xuất ra ngoài.
Oa tịch: Là miệng mắt méo lệch.
Tức trọng bất thắng: Là tà nhập vào kinh, làm cho chi thể nặng nề không dễ cử động.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày về nguyên nhân, cơ chế và phương pháp biện chứng của trúng phong. V́ khí tuần hành ở ngoài mạch, huyết tuần hành ở trong mạch, khi âm huyết khuy tổn, dương khí độc kháng (mạnh một ḿnh) “Ngoại tựa thịnh nhi nội thực hư” (外似盛而内实虚), bên ngoài tựa như vượng thịnh mà bên trong thực sự hư tổn, v́ thế mạch phù chủ lạc mạch trống rỗng, bệnh tà phong hàn thừa hư mà xâm nhập, v́ thế mạch khẩn là hàn. V́ chính khí hư yếu không thể đề kháng, bài xuất bệnh tà ra ngoài, v́ vậy tặc tà lưu lại làm hại cơ thể. Một bên cơ thể thụ tà, mạch lạc khí huyết thụ thương khiến kinh lạc tŕ trệ không thể sử dụng, v́ thế cơ mặt lỏng lẻo, không có lực để vận động. Nơi không bị bệnh tức là bên chịu sự chi phối của chính khí, là chính khí độc trị và co cứng, thế là chính khí dẫn tà, khiến cho cơ mặt lại co cứng, bên khoẻ mạnh kéo bên bị bệnh (có cơ mặt tŕ trệ lỏng lẻo) khiến cho miệng mắt bị méo lệch.
Biện chứng trúng phong, nếu bệnh biến tương đối nhẹ, là tà khí trúng lạc mạch, doanh khí không thể vận hành ở cơ biểu, khiến cho da thịt bị tê. Nếu bệnh biến khá nặng là bệnh tà trúng kinh mạch, kinh mạch bị trở ngại tŕ trệ, khí huyết không thể vận hành ở chi thể, làm cho chi thể nặng nề khó cử động. Bệnh thế nặng hơn là do bệnh tà trúng vào phủ, vị phủ không thể “thâu tả” (输泻)vận chuyển loại bỏ. Nên tạo thành thấp trọc uất chưng (bốc lên) ảnh hưởng tinh thần mà không nhận biết người. Bệnh rất nặng là bệnh tà trúng vào tạng, tà khí vào tim, tâm trạng tán loạn, nên không nói được, không giữ được tân dịch, v́ thế miệng chảy dăi.
[Tuyển Chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Hàn hư tương bác (相搏) hỗ tương đấu tranh, chính không đủ nên bệnh tà lấn tới, chẩn đoán là mới cảm thụ phong hàn. Mạch phù là biểu hiện của huyết hư, khí tuần hành ngoài mạch và huyết tuần hành trong mạch, mạch phù là trầm án không đủ, là biểu hiện của huyết hư, huyết hư nên không thể cung cấp đầy đủ cho da thịt, mà lạc mạch trống rỗng, đồng thời không thể pḥng ngự khí bên ngoài, mà tặc tà không thể trừ bỏ, v́ thế hoặc bên trái hoặc bên phải, tuỳ theo nơi nào trống rỗng mà tà sẽ lưu lại. Tà khí gây tŕ trệ, chính khí co lại, cân mạch của phần cơ thể thụ tà tŕ trệ lỏng lẻo, bên không bị bệnh chỉ có chính khí nên không lỏng lẻo tŕ trệ mà co rút lại khiến miệng mắt méo lệch. Và chi thể không thể vận động như ư. Méo lệch bên trái là bệnh tà ở bên phải, méo lệch bên phải th́ bệnh tà lại ở bên trái. Dù cho hoặc trái hoặc phải th́ cũng có điểm đặc thù của tà chính hoăn cấp, mà là bên ngoài (biểu) hoặc bên trong (lư), cũng có sự khác biệt của tạng phủ kinh lạc. Kinh viết: Kinh mạch là lư (bên trong) đường ngang là lạc, lạc nhỏ là tôn; V́ thế là lạc th́ nông mà kinh th́ sâu, lạc nhỏ mà kinh lớn, nên tà ở lạc th́ bệnh ở da thịt, mà tà khí ở kinh th́ bệnh ở gân xương, bệnh nặng tà khí xâm nhập phủ, lại nặng mà nhập tạng, là bệnh tà đă tăng nặng. Thần trữ tàng ở tạng mà thông với phủ, phủ bệnh th́ thần trở ngại bên trong, nên không nhận biết người. Chư âm nối liền với lưỡi, tạng khí nghịch nên không đến dưới lưỡi, khiến dừng hoạt động ở trên, v́ thế lưỡi khó nói và miệng chảy nước dăi.
[Hầu thị Hắc tán] Trị đại phong, tứ chi rất nặng nề, tâm trung ố hàn, là không đầy đủ (hư thiếu) bất túc giả. {Ngoại Đài}trị phong điên Cúc hoa 40 phân Bạch truật 10 phân Tế tân 3 phân Phục linh 3 phân Mẫu lệ 3 phân Cát cánh 8 phân Pḥng phong 10 phân Nhân sâm 3 phân Phàn thạch 3 phân Hoàng cầm 5 phân Đương quy 3 phân Can khương 3 phân Khung cùng 3 phân Quế chi 3 phân
14 vị trên, tán thành bột, uống 1 th́a, ngày uống 1 lần, lần đầu uống 20 ngày, uống với rượu hâm nóng, cấm ăn cá, thịt và tỏi, nên ăn thực phẩm lạnh trong 60 ngày, tức là dược phẩm tích lại trong bụng không xuống, ăn thực phẩm nóng tức hạ; Ăn thực phẩm lạnh có khả năng hỗ trợ sức thuốc.
[Từ giải]
Đại phong: Tên hội chứng thời cổ đại.
Phương này tŕnh bày hội chứng và nguyên tắc trị liệu chứng trúng phong hiệp hàn. Do bệnh nhân khí huyết hư tổn, hư dương vượt lên, dương nhiệt luyện (cô đặc) dịch thành đàm, v́ thế thường thấy bệnh nhân mặt hồng, chóng mặt, hôn mê, lại cảm thụ đại phong hàn tà, gây trở ngại kinh mạch dương khí, nên tứ chi nặng nề, liệt nửa người.
Dương khí không đầy đủ, phong hàn tà khí hướng vào trong, dần dần lấn át tâm, nên sợ lạnh và mệt mỏi.
Điều trị dùng Hầu thị Hắc tán, thanh can hoá đàm, dưỡng huyết khứ phong. Trong phương có Cúc hoa, Mẫu lệ, Hoàng cầm thanh can tiềm dương; Cát cánh trừ đàm thông lạc mạch, Phàn thạch bài trừ đàm bẩn để trị chứng chóng mặt hôn mê, Nhân sâm, Phục linh, Đương quy, Xuyên khung, Bạch truật, Can khương ôn bổ tỳ vị, bổ khí dưỡng huyết, hoạt huyết thông lạc; Pḥng phong, Quế chi, Tế tân tán phong hàn tà khí, ôn thông dương khí, trị các chứng như tứ chi nặng nề, liệt nửa người.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú] Xâm nhập trực tiếp cơ nhục tạng phủ, v́ thế gọi là đại phong, bệnh tà vây hăm ở tỳ, nên tứ chi rất nặng nề, dương khí hư nên phong chưa hoá nhiệt, nên ghét lạnh mệt mỏi, v́ thế dùng Sâm, Truật, Phục linh kiện tỳ an thổ, cùng Can khương ôn trung bổ khí, với Cúc hoa Pḥng phong có thể khu trừ phong của biểu lư, Khung cùng tuyên huyết dưỡng huyết để hỗ trợ, Quế chi dẫn đường các vị thuốc để khai thông tê bại, dùng Phàn thạch hoá đàm trừ thấp, Mẫu lệ thu âm dưỡng chính khí, Cát cánh khai trừ tà khí, khiến đại khí được chuyển vận, phong tà được trừ khứ, Hoàng cầm chuyên thanh phong hoá nhiệt, Tế tân khứ phong thông khí tương giao tâm thận, với rượu dẫn thuốc chu lưu toàn thân kinh lạc cũng chính là sứ dược.
寸口脉迟而缓,迟则为寒,缓则为虚。荣缓则为亡血,卫缓则为中风。邪气中经,则身痒而瘾疹,心气不足,邪气入中,则胸满而短气。
3/ Thốn khẩu mạch tŕ nhi hoăn, tŕ tắc vi hàn, hoăn tắc vi hư. Vinh hoăn tắc vi vong huyết, vệ hoăn tắc vi trúng phong. Tà khí trúng kinh, tắc thân dưỡng nhi ẩn chẩn, tâm khí bất túc, tà khí nhập trung, tắc hung măn nhi đoản khí.
[Từ giải]
Vong huyết: (亡血)Vong là vong thất là mất, huyết là doanh huyết.
Ẩn chẩn: (瘾疹) Là một loại bệnh phong chẩn mẩn từng mảng, do phong thấp uất kết vào cơ biểu gây bệnh, b́ chẩn có thể lúc phát bệnh lúc không.
Tâm khí bất túc: Chỉ về khí huyết của tâm không đầy đủ.
Nhập trúng: Phong tà xâm nhập, tổn thương trúng tâm phế.
{Giải thích}
Điều văn tŕnh bày biện chứng hai loại bệnh phong là chứng ẩn chẩn (瘾疹) và tức ngực. Do doanh huyết không đầy đủ, mạch đến nhưng không có lực, nên viết mạch hoăn tức là hư, là vong huyết. Do vệ khí bất túc (không đầy đủ), khí tuần hành không kịp nên tŕ là hàn, doanh vệ đều hư th́ dễ cảm thụ ngoại tà, là chứng trúng phong. Đây là bệnh tà trúng vào bên ngoài c̣n chưa trúng sâu vào kinh. Nếu phong tà trúng kinh mạch, th́ khí huyết muốn tuần hành cũng không thể, thấp và hăn muốn thấu phát cũng không thể thấu phát, phong thấp uất kết tại da thịt, có thể phát sinh phong chẩn làm cho cơ thể rất ngứa. Nếu tâm huyết không đủ, phong tà thừa hư mà truyền vào tâm phế, khiến khí cơ trong ngực bất lợi nên ngực sườn trướng đầy và thở ngắn.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Huyền Giải] Thốn khẩu mạch tŕ mà hoăn, tŕ là huyết khí hàn, mạch hoăn là doanh vệ hư yếu, vinh hoăn là lư hư mà vong huyết, vệ hoăn là biểu hư mà trúng phong. Tà khí trúng kinh lạc, phong dĩ tiết chi, mà vệ khí lại càng thu liễm, ngăn chặn doanh huyết thông đạt ra ngoài nên thân thể nổi mẩn và ngứa, là khí muốn tuần hành mà huyết th́ không thể, huyết uất ngoại nhiệt phát vào xuất hăn th́ thành hồng ban. V́ vệ khí liễm ở ngoài nên không thể thấu phát, tạo nên những điểm đỏ ẩn trong da thịt, chính là ẩn chẩn. Doanh khí u uất không tiết ra thông sướng dễ dàng là nguyên nhân gây ngứa, nếu khí của tạng tâm không đủ, tà khí thừa hư mà xâm nhập, gây bế tắc ngăn chặn trung khí khiến ngực sườn đầy trướng và hơi thở ngắn mà không thoải mái.
[Thang Dẫn phong] Trừ nhiệt tê liệt động kinh
Đại hoàng Can khương Long cốt mỗi vị 4 lạng Quế chi 3 lạng Cam thảo Mẫu lệ mỗi vị 2 lạng Hàn thuỷ thạch Hoạt thạch Xích thạch chi Tử thạch anh Thạch cao mỗi vị 6 lạng
12 vị trên, giă nhuyễn, sàng thô và cho vào túi. Nhúm ba ngón tay, dùng ba thăng nước, đun sôi ba lần, uống ấm một thăng. Trị người lớn phong dẫn, thiếu tiểu động kinh co giật, ngày phát 10 lần, thày thuốc không dùng phương trừ nhiệt. Sào thị viết: Cước khí nên dùng thang Phong dẫn.
[Từ giải] (giải thích từ)
Than giản: Than là chứng liệt nửa người, chính là bệnh động kinh
Vi nang: Túi thuốc ngày xưa làm bằng da.
{Giải thích}
Phương này tŕnh bày biện chứng luận trị bệnh phong do phong tà tiến vào trong nội tạng, phát sinh hoả nhiệt, ngũ tạng dương kháng(công năng kháng tiến có tính bệnh lư). Do phong nhiệt xâm phạm vào trong, hoặc thịnh nộ không ngừng, tạng khí vượt mức quá độ, huyết nhiệt tràn tim, nghịch lên đầu nên mặt hồng, mắt đỏ, thần trí hôn mê. Khí huyết không tuần hành tứ chi, nên tê liệt không thể vận động. Nhiệt gây tổn thương huyết dịch nên không nuôi dưỡng cân mạch v́ thế xuất hiện co giật. Nhiệt nhiều nên cô đặc dịch thành đàm mà phát tác động kinh.
Thường khi hoả nhiệt ở ngũ tạng quá mạnh, huyết nhiệt thăng lên, dẫn khởi các bệnh như trúng phong đột quị, động kinh, trẻ em kinh phong. Đều có thể dùng thang Dẫn phong, thanh nhiệt giáng hoả, trấn kinh phong. Trong phương có Đại hoàng, Quế chi tả thực nhiệt ở huyết phận, dẫn huyết hạ hành, thông hành huyết mạch, là chủ dược trừ nhiệt của bệnh động kinh; Hoạt thạch, Thạch cao, Hàn thuỷ thạch, Tử thạch anh, Xích thạch chi, Bạch thạch chi tiềm dương hạ hành, thanh kim phạt mộc, lợi thấp giải nhiệt; Long cốt Mẫu lệ trấn kinh an thần, cố liễm can thận, Can khương, Cam thảo ấm áp tỳ vị, hoà trung ích khí, là tá trợ tính lạnh của các loại thạch.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] Phong tà vào trong nên hoả nhiệt nội sinh, ngũ tạng công năng vượt quá mức nhập vào tâm, v́ thế dùng Quế Cam Long thông dương khí an tâm thận là quân dược, do quyết âm phong mộc đồng cư với Thiếu dương tướng hoả, hoả phát tất sinh phong, phong sinh tất giáp thế mộc (ỷ vào quyền lực) áp bức tỳ thổ, v́ thế tỳ khí không thể vận hành, nên dịch tụ thành đàm, chảy vào tứ mạt, là nguyên nhân gây liệt, cho nên dùng Đại hoàng làm thần dược để tẩy rửa phong hoả thấp nhiệt, tuỳ dụng Can khương là tá dược để tỳ khí phản hành, lại dùng Hoạt thạch, Thạch cao thanh kim để phạt mộc, Xích, Bạch thạch chi hậu đăi thổ (tỳ) để trừ thấp, Hàn thuỷ thạch hỗ trợ âm của thận thuỷ, Tử thạch anh bổ hư của tâm thần làm sứ dược, v́ thế thang Dẫn phong chủ trị bệnh động kinh ở cả người lớn và trẻ em.
[Bệnh án]
Trịnh mỗ, nữ, 49t, khám bệnh lần 1 ngayf17/11/1980. Người bệnh cao huyết áp đă 5 năm, huyết áp dao động 160~230/ 95~130 mm thuỷ ngân, thường xuyên đau đầu, chóng mặt, đă uống nhiều loại thuốc tây hạ huyết áp, nhưng hiệu quả không rơ rệt. Ngày 6/11/1980 kiểm tra điện tâm đồ: Đậu tính tâm luật Q-T gian kỳ kéo dài 0.44’(cao nhất 0.42’ ‘); Kiểm tra đáy mắt: Mạch máu thị vơng mạch co cứng, X tuyến cho thấy cung động mạch chủ đột xuất, niệu thường quy Đản bạch (+), một sốt ít hồng tế bào.
Gần 1 tuần lại đây, đau đầu chóng mặt tăng nặng, tê tay chân, mặt hồng, miệng đắng, ù tai, táo bón, nước tiểu đỏ, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch tượng huyền ngạnh 9cwsng) hơi nhanh, huyết áp 180/110 mm thuỷ ngân, chẩn đoán can hoả thượng viêm, can dương thượng kháng, can phong có thế dục động. Điều trị nên tả can hoả, b́nh can dương, tức (ngừng) can phong, dùng thang Phong dẫn gia giảm.
Xử phương: Hàn thuỷ thạch 12g Tử thạch anh 30g siThajch cao sống 18g Long cốt sống Mẫu lệ sống mỗi vị 30g Thạch quyết minh sống 20g (đều nấu trước nửa giờ) Hoạt thạch 14g (bao) Xích thược 15g Can khương 3g Đại hoàng 9g Xuyên khung 10g Địa long 10g Câu đằng 12g (hậu hạ) Cúc hoa 10g Hoàng cầm 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang chia 2 lần uống.
Sau khi uống 3 thang, đau đầu chóng mặt giảm rất nhiều, hết táo bón, nước tiểu trong, rêu lưỡi hết vàng, mạch hoăn, huyết áp 170/100, dược chứng hợp phách, sơ kiến có hiệu quả, dùng nguyên phương gia Linh từ thạch, tăng Can khương lên 6g tiếp tục uống, huyết áp tiếp tục hạ thấp, uống thuốc đến 4/12 th́ huyết áp b́nh thường, hết đau đầu chóng mặt, có thể tự do đi lại, duy chỉ có cảm giác đầu lưỡi không quá linh hoạt, dùng nguyên phương klhws Hàn thuỷ thạch, Từ thạch, Đại hoàng, gia Xương bồ, Cát căn mỗi vị 10g, uống đến 30/12 th́ mọi chứng trạng đều hết. Tổng cộng uống hết 39 thang Phong dẫn gia giảm, sau đó thường xuyên uống Tị phong giáng áp hoàn, để cải thiện hậu quả. Theo dơi khoảng 1 năm, huyết áp vẫn b́nh thường.
[Pḥng kỷ địa hoàng thang] Trị bệnh cuồng trạng làm càn, liên tục nói một ḿnh, không nóng lạnh, mạch phù.
Pḥng kỷ 1 phân Quế chi 3 phân Pḥng phong 3 phân Cam thảo 1 phân
4 vị thuốc trên, lấy 1 ly rượu, ngâm 1 đêm, vắt lấy nước thuốc; dùng 2 cân Sinh địa hoàng giă nát, chưng như nấu cơm, dùng đồ đồng để đựng, vắt sinh địa để lấy nước thuốc, hoà nước sinh địa vào nước thuốc, chia hai lần uống.
{Từ giải}
Vọng hành: Chỉ hành vi không b́nh thường
Độc ngữ: Nói một ḿnh, nói năng hồ đồ loạn xạ
Suy chuỷ: Thái thuốc thành những lát mỏng nhỏ.
{Giải thích}
Phương này tŕnh bày biện chứng luận trị phong bệnh do huyết hư hoả thịnh. V́ tâm can âm huyết hư tổn nên không thể tư bổ âm để tiềm phong dương “tư âm tiềm dương” (滋阴潜阳), h́nh thành can phong nhiễu loạn lên trên, mà hoả của tâm quá mạnh. Phong nhiệt thượng nhiễu, thần thức rối loạn, nên bệnh giống như cuồng và mạch phù đại. Lại do phong thăng mà khí bốc lên, khí bốc lên mà đàm nghịch, đàm trọc tụ vào tâm nên tinh thần tối tăm rối loạn, v́ thế liên tục nói chuyện một ḿnh, thân thể không sợ lạnh phát sốt, là không xuất hiện biểu chứng, mạch phù, chỉ là hiện tượng dương khí có nhiều ở bên ngoài.
Điều trị dùng Pḥng kỷ địa hoàng thang, tư âm giáng hoả,. dưỡng huyết tức phong, thấu biểu thông lạc. Trong phương có nước sinh địa hoàng, lượng sử dụng rất nhiều, bổ âm huyết, ích ngũ tạng, dưỡng huyết tức (ngưng) phong, tư âm giáng hoả, Quế chi, Pḥng phong, Pḥng kỷ thấu biểu tán nhiệt, thông lạc khứ trệ, Cam thảo ích âm tả hoả.
[Tuyển chú]
{Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú} Nhiệt phong tà nhập tâm, phong hoả tương bác, thần trí táo loạn không yên, nên phát cuồng làm càn. Tạng tâm chủ về lời nói, phong hoả cháy rực ở tâm, người bệnh liên tục nói một ḿnh. Kinh viết tâm phong thiêu đốt nên thích giận dữ doạ nạt Phong tà nhập vào trong, bên ngoài không sợ lạnh phát sốt, nhưng mạch lại phù. Đó là thiếu âm thời lịnh cảm mạo phong hoả nhập tâm, chính là để kiềm chế bệnh ôn nhiệt, đây không phải là phương dược trị bệnh trúng phong, chỉ là sự nhầm lẫn ở khâu biên soạn. Mà hội chứng trúng phong, không chỉ là tứ chi không thu lại, chứng trạng chủ yếu là méo lệch miệng mắt, liệt nửa người, liệt nửa người th́ làm sao c̣n có thể cuồng loạn làm càn? Đọc là hiểu rơ. Do tâm kinh huyết hư, hoả thịnh lại cảm thụ phong, v́ thế dùng Sinh địa mát máu dưỡng huyết là quân dược, chính là ư của huyết túc (đầy đủ) th́ phong tự diệt, Cam thảo điều hoà doanh vệ, Pḥng phong, Pḥng kỷ khu phong và khiến phong xuất ra ngoài.
{Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú} Cũng là phong tiến nhập vào tâm. Phong thăng th́ khí dũng (bốc lên), khí dũng tắc trệ tiên (đàm dăi ủng trệ), trệ tiên khiến thấp đ́nh lưu, thấp lưu th́ hoả nghẽn tắc, bệnh tà tụ vào tim, nên dùng hai vị Pḥng (Pḥng phong, pḥng kỷ), Quế, Cam khứ tà, và dùng rất nhiều Sinh địa để thanh tâm hoả mát máu, gọi là cuồng trạng, làm càn nói một ḿnh liên tục, đều là hội chứng của tâm hoả quá mạnh. Huống chi lại không nóng lạnh th́ biết rằng bệnh không ở bên ngoài (biểu), bệnh không ở biểu mà mạch lại phù th́ không nghi ngờ mà đó chính là biểu hiện của hoả mạnh mà huyết lại hư, Địa hoàng ẩm tử, Tê giác địa hoàng của người đời sau có nguồn gốc ở đây.
{Bệnh án}
Trần x x, nữ, 41t, các khớp bị đau đă hơn 1 năm, co duỗi khó khăn, thường xuyên đau họng, rêu lưỡi mỏng, mạch nhu, độ lắng máu 95ml/h, điều trị cho cô ta khứ phong thấp thanh nhiệt bằng thang Pḥng địa hoàng: Mộc pḥng kỷ 15g Khương hoạt 30g Quế chi 9g Sinh địa 15g Cam thảo sống 9g Bồ công anh 30g Pḥng phong 9g Tây hà liễu 30g, tổng cộng điều trị 18 ngày. Bệnh nhân không c̣n đau khớp, đau họng, kiểm tra độ lắng máu là 5ml/h.
[Đầu Phong Ma Tán]
Phụ tử 1 củ lớn, pháo diêm bằng lượng
Tán 2 vị trên, rửa sạch phương thốn chuỷ (một loại th́a cổ) chà vào vết ghẻ để thuốc dễ phát huy tác dụng.
{Giải thích}
Phương này luận về ngoại trị pháp chứng đầu phong. Do khí huyết hư nhược, mạch lạc sáp trệ (không thông sướng), phong hàn xâm nhập đầu mặt, ảnh hưởng kinh mạch, ngưng trệ không thông, nên xuất hiện các hội chứng như đau nửa đầu, hoặc kèm theo miệng mắt méo lệch.
Điều trị dùng Đầu phong ma tán. Đầu tiên dùng nước ấm rửa sạch nơi bị bệnh, rồi dùng thuốc xoa vào. Trong phương có phụ tử cay nóng dược lực mạnh mẽ, có thể tán phong hàn, lại có thể ôn thông huyết mạch, để giải trừ có thắt của kinh lạc, muối vị mặn tính lạnh, thẩm thấu lạc mạch đẫn bệnh tà xuất ra ngoài.
[Tuyển chú]
[Trương Thị Y Thông] Thuốc Đầu phong ma tán trị chứng trúng phong miệng mắt méo lệch không như ư (bất toại), chuyên dùng phụ tử trị chứng kinh lạc bị co thắt, muối ăn trị chứng phù nhiệt bên trên, [Thiên Kim] Dùng nó để trị mọi chứng độc phong tiềm phục lâu ngày ở đầu mặt.
寸口脉沉而弱,沉即主骨,弱即主筋,沉即为肾,弱即为肝,汗出入水中。如水伤心,历节黄汗出,故曰历节。
4/ Thốn khẩu mạch trầm nhi nhược, trầm tức chủ cốt, nhược tức chủ cân, trầm tức là thận, nhược tức là can, hăn xuất nhập thuỷ trung. Như thuỷ thương tâm, lịch tiết hoàng hăn xuất, cố viết lịch tiết.
[Từ giải]
Như thuỷ thương tâm: Như quả tà của thuỷ thấp đă gây tổn thương cho tâm và huyết mạch.
Hoàng hăn: Chỉ về hội chứng chảy nước vàng ở khớp trong bệnh lịch tiết.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày nguyên nhân, cơ chế và mạch chứng của bệnh Lịch tiết. Bệnh nhân Lịch tiết, can thận khí huyết không đầy đủ, can huyết hư nên mạch nhược, gân mạch không mạnh mẽ, thận khí hư nên mạch trầm, xương cốt không kiên cố. Bệnh nhân gân cốt không mạnh, khi xuất mồ hôi tấu lư (thớ thịt) khai tiết, lại ngâm người vào nước nên hàn thấp xâm nhập, tổn thương đến huyết mạch, thấm vào gân xương, lưu tụ vào khớp nên khí huyết không thể vận hành, uất kết lại thành thấp nhiệt, nên toàn thân khớp xương đều đau, nơi đau sưng lớn, chảy ra nước vàng, nên gọi là Lịch tiết.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Đó là can thận hư yếu trước và sau đó tâm dương lại uất, những yếu tố vừa nêu chính là gốc rễ của chứng Lịch tiết hoàng hăn. Tâm khí hoá dịch là hăn (mồ hôi), đang xuất mồ hôi mà cơ thể lại ở trong nước, khí của nước lạnh theo lỗ chân lông xâm nhập tạng tâm, bên ngoài là nước bên trong là lửa, uất lại thành thấp nhiệt, dịch mồ hôi có màu vàng ngấm vào gân xương, Lịch tiết th́ đau, chứng lịch tiết khi tiếp xúc mọi khớp đều đau, nhưng nếu can thận không hư yếu, th́ tuy gặp thuỷ khí cũng vị tất đă xâm nhập gân xương, không bị thuỷ thấp xâm nhập, th́ dù can thận có hư yếu, không hẳn đă thành chứng lịch tiết. Ư của Trọng Cảnh là đề cao tiêu chứng (thuỷ thấp) nhưng trước tiên là chú trọng nghiên cứu căn bản (can thận), và cho rằng chứng lịch thường do hư yếu mà tạo thành bệnh.
趺阳脉浮而滑,滑则谷气实,浮则汗自出。
5/ Phu dương mạch phù nhi hoạt, hoạt tắc cốc khí thực, phù tắc hăn tự xuất.
[Từ giải] Mạch Phu dương: Là động mạch ở mu bàn chân, huyệt Xung dương của kinh Túc dương minh vị, có thể đón xem biến hoá của vị khí.
{Giải thích}Đoạn văn này tŕnh bày và phân tích người uống rượu có thấp nhiệt, dễ cảm thụ hàn thấp tạo thành bệnh lịch tiết. V́ tửu thấp ở dạ dày, khiến cho khí ngũ cốc không thể tiêu hoá mà thành thực (chứng), v́ thế xuất hiện mạch hoạt. Nội nhiệt ngoại chưng (trong nóng ngoài bốc hơi) thớ thịt khai tiết (xuất hăn), nên mạch lại phù. Mạch phù chủ nhiệt, nhiệt th́ xuất mồ hôi. Nếu đang xuất mồ hôi mà gặp nước (lội nước hoặc mưa) hoặc gặp gió th́ hàn thấp liền xâm nhập, uất lại thành thấp nhiệt và có thể tạo thành bệnh lịch tiết.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] Nguyên nhân của chứng lịch tiết là do phong thấp, sự khác biệt là ở vị (dạ dày) hoặc ở thận, nhưng cả hai đều có cùng một đặc điểm là uống rượu xuất mồ hôi gặp gió mà thành bệnh lịch tiết, và nguyên nhân của bệnh lịch tiết cũng là phong. Gọi Phu dương là mạch tỳ vị, mạch hoạt là thực (chứng), là biết khí ngũ cốc thực, mạch phù là biểu hiện của nhiệt thịnh (nhiều nhiệt), v́ thế nên xuất mồ hôi; V́ sao ngũ cốc không tiêu hoá mà lại thành thực(chứng), đó chẳng phải tửu thấp đă gây tổn thương? Dạ dày v́ sao lại nóng, há chẳng phải do phong thấp tương bác (phong và thấp đấu tranh) đó ư?
少阴脉浮而弱,弱则血不足,浮则为风,风血相搏,即疼痛如掣。
6/ Thiếu dương mạch phù nhi nhược, nhược tắc huyết bất túc, phù tắc vi phong, phong huyết tương bác, tức đông thống như xiết.
[Từ gỉai]
Thiếu âm mạch: Mạch thủ thiếu âm tại huyệt Thần môn, có thể đón xem tâm khí. Mạch túc thiếu dương tại huyệt Thái khê, có thể đón xem thận khí.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày phân tích khí huyết hư nhược, phong tà ngoại xâm là bệnh cơ* của bệnh lịch tiết. V́ khí huyết không dầy đủ, nên mạch thiếu âm yếu nhược, phong tà thừa hư mà xâm nhập, v́ thế thiếu âm mạch phù. Phong tà xâm nhập, hoá thành nhiệt gây tổn háo doanh huyết, không thể nuôi dưỡng gân xương, gân mạch nhanh chóng bị khô háo. V́ thế khớp xương bị co kéo, đau không thể co duỗi. Trị pháp của chứng này chính là dưỡng huyết hoạt huyết và thanh tán phong nhiệt.
* Bệnh cơ, chính là cơ chế phát sinh, phát triển và kết cục của bệnh, bao gồm biến hoá và cơ chế của nguyên nhân, tinh chất, vị trí, thế bệnh…
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Lư Văn viết: Phong trong huyết, mạnh mẽ cứng ngắc, đến được mọi nơi, phong huyết tương bác (đấu tranh quyết liệt). Mà huyết chủ về nuôi dưỡng gân xương, nếu phong khô khan khiến cho huyết càng tổn háo mà không thể nuôi dưỡng gân xương, v́ vậy khớp xương đau như bị co lại. Người xưa viết: Trị phong trước tiên nên dưỡng huyết, huyết được sinh là phong tự diệt, đó cũng chính là phép điều trị bệnh này.
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] Nếu mạch Thiếu âm tay trái, chủ thận chủ âm, mạch nhược th́ âm không mạnh, nên huyết không đầy đủ, mạch thận trầm, không có lư do mà mạch lại phù, th́ biết là do phong. Phong huyết đấu tranh, mà khi tà chính đấu tranh th́ đau như bị co lại, cũng tựa như kéo xiết lại. Phong lấy ǵ để đến được kinh Thiếu âm, chẳng lẽ không phải nhờ có tửu thấp mà phong đến được vậy hay sao.
盛人脉涩小,短气自汗出,历节疼,不可屈伸,此皆饮酒汗出当风所致。
7/ Thịnh nhân mạch sáp tiểu, đoản khí tự hăn xuất, lịch tiết đông, bất khả khuất thân, thử giai ẩm tửu hăn xuất đương phong sở chí.
[Từ giải]
Thịnh nhân: Người có thân thể to mập.
{Giải thích}
Đoạn văn tŕnh bày nguyên nhân và cơ chế bệnh lịch tiết. Bệnh nhân bệnh này to béo nên dương khí thường không đầy đủ và nhiều thấp khí, v́ thế hơi thở ngắn. Dương khí không kiên cố vững vàng cho nên tự xuất hăn. Xuất hăn nên thở thịt không kín đáo, khi uống rượu xuất hăn th́ thớ thịt mở rất lớn, phong tà dễ dàng xâm nhập, phong tà tương hợp với thấp tà, tụ vào khớp xương, khiến khí huyết vận hành bị trở ngại v́ thế nên mạch sáp tiểu, khớp xương đau nhức không thể co duỗi.
[Tuyển Chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] Thịnh nhân là người to béo. Là người nhiều thấp, có mạch sáp tiểu, là h́nh tượng của chứng tê liệt. Thế là, do ảnh hưởng của thấp nên khí đoản, v́ phong mà dẫn đến tự xuất hăn, khí huyết bị b ệnh tà gây tê liệt khiến đau không thể co duỗi, người to béo vốn nhiều thấp, tại sao mạch sáp tiểu, chẳng lẽ không phải do thấp vây hăm ư? Tại sao đau nhức lại gia thêm xuất hăn không ngừng, đó không phải là thấp hiệp với phong ư? Mạch chứng khác nhau, v́ phong có một, v́ thế có câu: Đều do uống rượu xuất hăn gặp gió mà thành bệnh.
诸肢节疼痛,身体尪羸,脚腫如脱,头眩短气,温温欲吐,桂枝芍药知母 汤主之。
8/ Chư chi tiết đông thống, thân thể uông luy, cước thũng như thoát, đầu huyễn đoản khí, ôn ôn dục thổ, Quế chi thược dược tri mẫu thang chủ chi.
Thang phương Quế chi thược dược tri mẫu
Quế chi 4 lạng Thược dược 3 lạng Cam thảo 2 lạng Ma hoàng 2 lạng Sinh khương 5 lạng Bạch truật 5 lạng Tri mẫu 4 lạng Pḥng phong 4 lạng Phụ tử 2 lạng, nướng
9 vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, nấu c̣n 2 thăng, uống ấm 7 hợp, ngày 3 lần.
[Từ giải]
Uông luy (尪羸) Là chỉ thân thể gầy yếu. [Mạch Kinh] gọi h́nh dạng khớp sưng lớn là “Khôi loă” (魁瘰).
Cước thũng như thoát: Chỉ hai chân sưng thũng rất lớn, giống như muốn tách rời khỏi cơ thể.
Ôn ôn dục thổ: , lợm giọng muốn nôn mà không nôn.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày phân tích biện chứng luận trị chứng phong thấp lịch tiết. Phong hàn thấp xâm nhập cơ thể, lưu tụ ở khớp, khiến dương khí bị cản trở tê liệt, khí huyết không thông sướng, nên khớp của chi thể sưng to và đau, thấp gây trở ngại cho dương ở trung tiêu, nên ôn ôn dục thổ (muốn nôn mà không nôn), chảy xuống hạ tiêu nên chân phù thũng rất lớn; Nếu nhiệt bốc lên gây háo khí tổn thương âm th́ đầu mục huyễn vựng mà thở ngắn. Đến như thân thể gầy yếu th́ cũng là t́nh trạng tổn háo của chính khí.
Điều trị dùng thang Quế chi thược dược tri mẫu, ôn dương trị tê liệt, khu trừ ba bệnh tà phong, hàn và thấp. Trong phương có Quế chi Ma hoàng phát tán phong hàn, Bạch truật khứ thấp, Phụ tử tán hàn, Pḥng phong tán phong, Sinh khương, Cam thảo điều hoà trung tiêu trị nôn, Thược dược, Tri mẫu bổ âm trừ nhiệt, để chế ngự thuốc thiên về khô táo gây tổn thương âm.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú] Đây là Phong hàn thấp tí là bệnh của vinh vệ gân xương tam tiêu. Đầu huyễn, thở ngắn là bệnh tí (痹) ở thượng tiêu, ôn ôn dục thổ (muốn nôn mà không nôn) cũng là chứng tí ở trung tiêu, cước thũng như thoát (hai chân sưng to như muốn tách rời khỏi thân thể) cũng là bệnh ở hạ tiêu; Đau các khớp xương, thân thể gầy yếu, là chứng tí ở gân xương ……Thấp nhiều th́ sưng thũng, hàn lănh nhiều th́ đau, phong nhiều th́ di động, v́ thế dùng Quế chi trị phong, Ma hoàng trị hàn, Bạch truật trị thấp, Pḥng phong tá trợ (giúp đỡ) Quế chi, Phụ tử tá trợ Ma hoàng, Bạch truật; Mà Thược dược, Sinh khương, Cam thảo hoà phát vinh vệ (hoà vinh phát vệ) như theo lệ thường của thang Quế chi. Tri mẫu trị chứng chân thũng, dẫn các vị thuốc khứ tà ích khí lực, Phụ tử là vị thuốc có tiềm năng mạnh mẽ để trị tê bại. Nhưng phân lượng nhiều (2 lạng) sắc lấy ít nước (3 thăng) e rằng nên thay đổi liều lượng cho phù hợp. Theo [Tam Nhân Phương]: Mỗi lần uống 4 tiền (là lượng thuốc 3 thăng chia làm 5 lần uống).
[Bệnh án]
Họ Thạch, nữ, 31 tuổi. Bệnh nhân bị viêm khớp phong thấp đă nửa năm. Phong hần thấp nhiệt kết hợp, phong thắng th́ có tính di động, thấp thắng th́ khớp bị sưng thũng, hàn thắng th́ đau kịch liệt, nhiệt thắng th́ phát sốt. V́ thế thân thể bệnh nhân gầy yếu, khớp nhỏ ở tay chân dần dần sưng lớn, hoạt động khó khăn, khớp lớn đau di động bất định, khi đau nhiều th́ như bị hổ cắn xé không chịu nổi, sốt nhẹ không ngừng, mạch tế hoạt, chất lưỡi hồng rêu lưỡi trắng. Bệnh rất phức tạp, điều trị khó khăn. Dùng phương Quế chi Thược dược Tri mẫu, khứ phong tán hàn, kiêm trừ thấp thanh nhiệt.
Xử phương: Quế chi 10g, Xích thược 12g, Cam thảo 6g, Ma hoàng 6g, Sinh khương 5 lát, Bạch truật 10g, Tri mẫu 12g, Pḥng phong 9g, Phụ tử 12g.
Gia giảm uống liên tục 50 thang, chứng đau khớp cơ bản đă được khống chế, hết sốt nhẹ, đi lại hoạt động b́nh thường, thể h́nh cải thiện, bệnh tà đă lui. Dùng nguyên phương gia bổ khí dưỡng huyết để điều trị để đề pḥng bệnh tái phát.
9.味酸则伤筋,筋伤则缓,名曰泄。咸则伤骨,骨伤则痿,名曰枯。枯泄相搏,名曰断泄。荣气不通,卫不独行,荣卫俱微,三焦无所御,四属断绝,身体 羸瘦,独足肿大,黄汗出,胫冷,假令发热,便为历节也。
9/ Vị toan tắc thương cân, cân thương tắc hoăn, danh viết tiết. Hàm tắc thương cốt, cốt thương tắc nuy, danh viết khô. Khô tiết tương bác, danh viết đoạn tiết. Vinh khí bất thông, vệ bất độc hành, vinh vệ câu vi, tam tiêu vô sở ngự, tứ thuộc đoạn tuyệt, thân thể luy sấu, độc túc thũng đại, hoàng hăn xuất, hĩnh lănh, giả linh phát nhiệt, tiện vi lịch tiết dă.
[Từ giải]
Tiết (泄): Chỉ gân bị tổn thương lơi lỏng không thu lại.
Khô (枯):P Xương tổn thương mềm yếu không thể gánh vác.
Đoạn tiết (断泄); Chỉ về thận tinh khô kiệt, huyết của tạng can hư thiểu, khiến sức sống không liền lạc, gọi là “đoạn tiết” (断泄.
Tứ thuộc (四属) là chỉ về tứ chi hoặc chỉ về da, thịt, mỡ và tuỷ.
{Giải thích}
Điiều văn tŕnh bày và phân tích việc ăn quá nhiều thực phẩm chua mặn, nội thương can thận dẫn đến bệnh lịch tiết. Con người ăn ngũ vị, có thể nuôi cơ thể, nhưng nếu sử dụng thiên lệch, hoặc bất cập (không đúng mực) th́ có thể gây bệnh. Như ăn quá nhiều vị chua sẽ tổn thương tạng can, tổn thương gân, gân tổn thương sẽ lỏng lẻo không thể sử dụng, không thể tuỳ ư vận động, v́ thế gọi là “tiết” (泄), ăn nhiều thực phẩm mặn khiến thận bị tổn thương, xương bị tổn hại, khiến xương mềm yếu không thể đi đứng, v́ thế gọi là “khô” (枯). Ăn quá nhiều vị chua mặn gây tổn thương cho can và thận, khiến tinh kiệt huyết hư, gọi là “Đoạn tiết” (断泄). Can thận đều bị tổn thương, khí huyết v́ thế mà hư yếu, doanh vệ khí huyết không thể quản lư tam tiêu, khiến chi thể không được nuôi dưỡng, dầm dần gầy yếu, thấp trọc lưu tụ xuống dưới, v́ thế hai chân sưng lớn, đau khớp, khớp chảy nước vàng, là do thấp uất phát nhiệt, thuộc về bệnh lịch tiết.
Nếu toàn thân xuất hoàng hăn (mồ hôi có sắc vàng), sưng tấy, cẳng chân lạnh, không đau là bệnh hoàng hăn. Đây chính là lời ghi chú thêm của tác giả, để giúp phân biệt với bệnh lịch tiết.
[Tuyển Chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Đó cũng là nội thương can thận, và do thực phẩm không tiết độ. Khô tiết tương bác, gọi là gân xương đều bị tổn hại. Viết là đoạn tiết, là nói về sinh khí không liền lạc, mà tinh thần uỷ mị. Doanh không thông cho nên vệ không vận hành, bệnh ở âm mà ảnh hưởng đến dương, không thông không hành, không tắc nghẽn mà đầy, ư là doanh vệ chảy cạn kiệt. Tứ thuộc, cũng là tứ chi, doanh vệ là khí của thuỷ cốc, tam tiêu thụ khí ở thuỷ cốc, mà tứ chi bẩm thụ khí ở tam tiêu, v́ thế doanh vệ vi nhược (nhỏ yếu) th́ tam tiêu vô khí và tứ chi không được nuôi dưỡng. Chính là do tinh vi không hoá lên trên mà thân thể gầy yếu, âm trọc chảy xuống dưới, làm chân sưng tấy , bắp chân lạnh, xuất hoàng hăn, bệnh này tựa như bệnh lịch tiết, hoàng hăn, mà thực là không phải thuỷ thấp gây bệnh. V́ thế có thuyết can thận tuy hư, vị tất đă thành bệnh lịch tiết. Mà bệnh do hư th́ không thể phát nhiệt, bệnh lịch tiết th́ chưa có ai không sốt, v́ thế có câu: Giả như phát nhiệt th́ đó là bệnh lịch tiết. Tức là hoàng hăn cũng chỉ là chứng trạng để phân rơ bệnh lịch tiết mà thôi.
病历节不可屈伸,疼痛,乌头汤主之。
10/ Bệnh lịch tiết bất khả khuất thân, đông thống, , Ô đầu thang chủ chi.
Phương thang Ô đầu Trị chứng cước khí đau nhức, không thể co duỗi.
Ma hoàng Thược dược Hoàng kỳ Cam thảo mỗi vị 3 lạng Xuyên ô 5 củ (12g) mật 2 thăng
% vị trên, giă nát 4 vị, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n 1 thăng, bỏ bă, cho mật vào nấu, uống 7 hợp, hiệu quả không rơ rệt, uống hết thuốc.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày phân tích biện chứng luận trị chứng hàn thấp lịch tiết. V́ hàn thấp xâm nhập khớp, ngưng kết lại không xuất khứ, cản trở khí huyết cho nên đau nhức các khớp, co cứng không thể duỗi, hàn lănh gây bệnh nên xuất hiện mạch trầm khẩn.
Điều trị dùng thang Ô đầu để tán hàn giảm đau, trong phương có vị Ma hoàng phát tán phong hàn, vị Ô đầu ôn thông dương khí khứ hàn giảm đau; Thược dược, Cam thảo hoăn giải câu cấp (là chứng trạng co quắp chân tay), thông lạc hoà âm; Hoàng kỳ phù trợ chính khí, để bồi bổ, cải thiện t́nh trạng vệ phận hư yếu. Nhưng v́ Ô đầu là vị thuốc cay nóng có độc, khó chế ngự để có thể hữu dụng, nên dùng mật ngọt nhuận để hoăn giải độc tính, hầu có thể trừ khứ bệnh tà mà không tổn thương chính khí. Phương thang này có thể khiến bệnh tà hàn thấp được giải trừ nhẹ nhàng xuất theo mồ hôi, và là phép sử dụng thuốc mănh liệt một cách hoà hoăn của y học cổ truyền.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú] Phương này điều trị chứng lịch tiết đau nhức không thể co duỗi vận động, cuối phương lại nói đến tác dụng điều trị bệnh cước khí đau nhức. Điều này cũng được đề cập trong bài thuốc điều trị chứng cước khí. Trong điều văn Lịch tiết của Trọng Cảnh có phương nhưng không có tên thuốc. Bài thuốc trị bệnh cước khí có cùng tên và có thuốc, người sưu tập sách nghĩ rằng cả hai bệnh đều do phong hàn tổn thương gân, vị Ma hoàng khai mở huyền phủ (lỗ chân lông), thông tấu lư (thớ thịt), tán hàn, giải trừ khí tí (vệ phận), Thược dược điều chỉnh huyết tí (doanh phận), Cam thảo thông kinh mạch, điều hoà chư dược, Hoàng kỳ ích vệ khí, khí mạnh th́ bệnh tà thoái lui, Ô đầu tính di động cao, xâm nhập can cân xua đuổi phong hàn; Nấu với mật để hoà hoăn tính chất của Ô đầu, Ô đầu lưu liên (ở lâu) trong gân xương để vận động thuận lợi, tính ẩm ướt của mật lại có thể ích huyết nuôi gân, đồng thời chữa trị độc tính táo nhiệt của Ô đầu.
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Đây là phương pháp điều trị chính yếu của chứng lịch tiết hàn thấp. Bệnh tà hàn thấp, không thể trừ khứ nếu không có Ma hoàng và Ô đầu, mà bệnh ở gân khớp, lại không như bệnh tà ở da lông, có thể tán tà chỉ bằng phát hăn, v́ thế dùng Hoàng kỳ để bồi bổ, Bạch thược để thu liễm, Cam thảo để hoà hoăn, tất cả để có mục đích kiềm chế nhị vật (Ma hoàng và Ô đầu) khiến thuốc xâm nhập sâu để trừ khứ lưu tà.
[Bệnh án]
Họ Hàn, nữ, 34 tuổi. Viêm khớp phong thấp, khớp đau kịch liệt, phát sốt, đau nhiều th́ sưng tấy, di động bất định, đă uống thang Việt t́, thang Bạch hổ gia Quế chi, thang Ma hoàng gia Truật, dùng các phương thống phong thông dụng cho trên, giữa và dưới (thượng, trung và hạ), thuốc tây đă dùng thuốc khứ phong thấp, kích tố, chứng phát sốt đă được khống chế, nhưng các khớp trên cơ thể vẫn đau sưng tấy và có tính di động, tay chân không thể co duỗi, đau kịch liệt th́ vật vă không yên, một ngày khóc 3~4 lần, có khi nếu không tiêm Pethidin th́ không hết đau. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch huyền khẩn. {Kim Quỹ} viết: Bệnh lịch tiết không thể co duỗi, đau nhức, thang Ô đầu chủ trị bệnh này.
Xử phương: Ma hoàng 6g Xích thược 12g Cam thảo 6g Hoàng kỳ 10g chế Xuyên ô 3g Bạch mật 30g. Uống 2 thang, đau tựa như giảm nhẹ. Dùng nguyên phương cải dụng sinh Xuyên, Thảo ô mỗi vị 5g, gia Tế tân 4g, uống liền 3 thang đau nhức giảm gần hết, tay chân co duỗi tự nhiên. Thuốc đă thấy hiệu quả, cải dụng Xuyên, Thảo ô sống mỗi vị 6g, Tế tân dùng 5g, uống thêm 3 thang, đau nhức cơ bản được khống chế. Nhưng sau khi uống thuốc lưỡi bị tê, sau từ 1~2 giờ th́ hết, đó là chứng trạng trúng độc ô đầu nhẹ. Dùng nguyên phương với tễ lượng giảm nhẹ tiếp tục sắc uống. Xử phương: Xuyên, Thảo ô sống mỗi vị 5g, Ma hoàng 5g, Bạch thược 12g, Cam thảo 6g, Hoàng kỳ 12g, Tế tân 4gt, Bạch mật 30g (xung).
Gia giảm 30 thang, đau nhức tiêu trừ, hành động tự nhiên. Dùng nguyên phương gia giảm, xuất viện tiếp tục điều trị.
Lời người dịch: Theo kinh nghiệm bản thân, khi dùng phương thang có Xuyên, Thảo ô để an toàn cứ sắc hai vị này trước khoảng 1 giờ đến 1h30 là tốt nhất.
Phương thang trên điều trị chứng viêm mạch quản đau như muốn chết cũng thu được hiệu quả khá tốt.
[Thang Phàn thạch] Trị cước khí xung tâm.
Phàn thạch 2 lạng
Với 1 vị trên, dùng 1 đấu 5 thăng nước, đun sôi kỹ, ngâm chân.
{Giải thích}
Phương thuốc này chỉ ra cách biện chứng luận trị bệnh cước khí xung tâm. Dương khí của người yếu nhược, không thể vận hoá thuỷ thấp, thuỷ thấp độc khí tổn thương ở dưới, lưu trệ không được trừ khứ, uất chưng thành nhiệt xung lên tâm, phóng xuống hạ chi sưng tấy, tê đau, dẫn đến vận động khó khăn và hồi hộp bất an.
Dùng thang Phàn thạch để điều trị bệnh này. Phàn thạch có vị chua sáp, tính khô ráo, có khả năng loại bỏ thuỷ thấp và giải độc, độc và thấp đă được loại bỏ, không thể xung tâm nên chứng chân sưng tấy cũng tự tiêu.
[Tuyển Chú]chú thích tuyển chọn
[Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú]: Chứng cước khí là do phong thấp, hàn thấp, thấp nhiệt gây ra. Kinh viết: Tổn thương của thấp, cảm thụ trước tiên ở hạ tiêu, bệnh có tính chất âm, xuống cực độ rồi lên. V́ khí của thượng tiêu và trung tiêu hư tổn trước. Tỳ thấp chảy xuống, mời gọi ngoại tà, hỗ tương chưng hấp thành nhiệt, xung lên tâm, cũng gọi là khí của đất thêm lên trời “Địa khí gia thiên” (地气加天). V́ thế dùng Phàn thạch vị chua tính ấm, sắc để ngâm rửa, có khả năng trừ ẩm thấp và dầu mỡ, thanh nhiệt giải độc rất tốt, v́ thấp tà cảm thụ từ ở dưới, nên dùng phép thấm xuống để trừ khứ thấp th́ tà khí không thể xung tâm.
Phụ phương
{Cổ Kim Lục Nghiệm} Thang Tục mệnh
Trị chứng trúng phong phi (trúng gió), thân thể không tự thu lại, miệng không thể nói, không biết khó chịu ở đâu, hoặc co quắp không thể trở ḿnh. Họ Dao nói: Giống thang Đại tục mệnh. Kiêm trị phụ nữ sản hậu khứ huyết, và người già trẻ em.
Ma hoàng Quế chi Đương quy Nhân sâm Thạch cao Can khương Cam thảo mỗi vị 3 lạng Khung cùng 1 lạng Hạnh nhân 14 hạt.
9 vị trên, dùng 1 đấu nước, nấu c̣n 4 thăng, uống ấm 1 thăng, xuất chút mồ hôi, khoác áo mỏng, ngồi tựa ghế, xuất mồ hôi th́ khỏi bệnh, nếu không xuất hăn th́ tiếp tục uống, không cấm kỵ, đừng ra gió. Đồng thời điều trị th́ không được nằm, ho suyễn, mắt mặt sưng thũng.
[Từ giải]
Phi (痱); Là chỉ tứ chi không đau, tàn phế không co lại được, bất luận ở các mức độ tàn phế đều gọi là phi (痱)
Mạo muội (冒昧): là chỉ về tinh thần hoảng hoảng hốt hốt, mông muội (tối tăm).
{Giải thích}
Phương dược này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng trúng phong thiên khô (liệt nửa người). V́ tố chất doanh huyết hư yếu, phong hàn xâm nhập, cản trở doanh vệ, doanh vệ không thể tuần hành bên ngoài, v́ thế thân thể không có khả năng tự nắm giữ, hoặc co quắp không thể trở ḿnh; Doanh vệ không thể tuần hành ở bên trong, nên đầu óc tối tăm mông muội không biết đau ở đâu, miệng không thể nói.
Điều trị bệnh này dùng thang Tục mệnh tán tà bổ hư. Trong phương có Ma hoàng, Quế chi tán phong hàn, vận hành doanh vệ, Thạch cao, Hạnh nhân thanh phế khí, phế khí lưu thông sẽ khiến doanh vệ vận hành thông sướng trong ngoài, Nhân sâm, Cam thảo, Đương quy, Xuyên khung bổ khí dưỡng huyết, thông điều doanh vệ; Can khương ấm dạ dày để hỗ trợ sức thuốc.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Phi (痱) cũng có nghĩa là tàn phế, tinh thần không vững vàng, gân xương vô dụng, nếu không v́ bệnh tà đặc biệt quấy nhiễu, th́ cũng là chân khí suy nhược, v́ thế Ma hoàng, Quế chi có tác dụng tán tà, Nhân sâm, Đương quy bồi bổ chính khí, Thạch cao hợp Hạnh nhân để hỗ trợ lực tán tà, Cam thảo hợp Can khương là cần thiết để hồi phục chính khí, Và đây cũng chính là phép công bổ kiêm hành thích hợp cho bệnh này.
[Thiên Kim] Tam hoàng thang Trị chứng trúng phong tay chân co quắp, đau các khớp, phiền nóng tâm loạn, sợ lạnh, cả ngày không muốn ăn uống.
Ma hoàng 5 phân Độc hoạt 4 phân Tế tân 2 phân Hoàng kỳ 2 phân Hoàng cầm 3 phân
5 vị thuốc trên, dùng 6 thăng nước, nấu c̣n 2 thăng, phân làm 3 lần uống ấm. Uống lần thứ nhất có một chút mồ hôi, uống lần 2 xuất rất nhiều mồ hôi. Tâm nóng gia Đại hoàng 2 phân, đầy bụng gia Chỉ thực 1 quả, khí nghịch gia Nhân sâm 3 phân, hồi hộp gia Mẫu lệ 3 phân, khát nước gia Qua lâu căn 3 phân, bị lạnh gia Phụ tử 1 nhánh.
[Từ giải]
Tâm nhiệt: Chỉ vị tràng tích trệ thực nhiệt
{Giải thích}
Phương dược này tŕnh bày và giải thích hội chứng và phương pháp điều trị chứng trúng phong thiên khô (liệt nửa người), phong hàn thâm nhập, uất mà hoá nhiệt. Bệnh nhân có tố chất doanh vệ hư yếu, cảm thụ phong hàn tà khí, nên sợ lạnh, chân tay co quắp, đau nhức các khớp. Phong hàn bế tắc ở ngoài, dương khí uất ở trong mà hoá nhiệt, phiền nóng loạn tâm, cả ngày không thiết ăn uống. Điều trị dùng thang Tam hoàng, tán hàn thanh nhiệt, bổ ích vệ hư. Trong phương có Ma hoàng, Độc hoạt, Tế tân tán phong hàn thấp thâm nhập cơ thể, ấm kinh lạc, vận hành doanh vệ, Hoàng cầm thanh nhiệt táo thấp, Hoàng kỳ bổ vệ khí để ngăn chặn phong tà. Phần sau của phương dược có ghi chú phép điều trị của các chứng như tâm nhiệt, đầy bụng, khí nghịch, hồi hộp và khát. V́ thấp nhiệt nội uất, trong vị tràng có tích trệ thực nhiệt, v́ thế thường có các chứng trạng như đầy bụng, táo bón hoặc đại tiện dính trệ nặng mùi, nên gia Đại hoàng trừ thực nhiệt, gia Chỉ thực hành khí tiêu đầy trướng, thấp nhiệt uất ở vị, vị khí nghịch lên, gia Nhân sâm bổ khí của tỳ vị để vận hoá thấp trọc mà giáng khí nghịch. Uất mà hoá nhiệt, tâm nóng th́ sợ hăi, nên gia Mẫu lệ để an thần; Phế và vị nhiệt sẽ tổn thương âm khí, gia Qua lâu căn dưỡng âm thanh nhiệt, thanh túc (làm sạch) khí của tạng phế; Thuộc tố chất dương hư không ấm áp, không chế ngự được phong hàn, th́ gia Phụ tử để ôn thận thông dương, tuỳ chứng gia giảm, không nên câu nệ vào một quy cách nào “Bất câu nhất cách”(不拘一格).
[Tuyển Chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa] Cũng dùng điều trị chứng trúng phong, mà câu nệ thiếu linh hoạt. Dùng Độc hoạt thay Quế chi cho trường hợp phong tà thâm nhập. Dùng Tế tân thay Can khương là dùng cho trường hợp bệnh tà đă xâm nhập vào kinh lạc. Dùng Hoàng kỳ bổ hư để trừ phong, dùng Hoàng cầm thay Thạch cao để thanh nhiệt, là dùng trong trường hợp thấp uất ở dưới mà nhiệt thậm ở trên; Tâm nhiệt gia Đại hoàng cũng là để tiết nhiệt, đầy bụng gia Chỉ thực cũng là để khai hành khí trệ; Khí nghịch gia Nhân sâm là để bổ trung tiêu ích dạ dày; Sợ hăi gia Mẫu lệ, cũng là đề pḥng thuỷ tà; Khát gia Qua lâu căn để túc phế sinh tân dịch trừ nhiệt,….. tiên hữu hàn (lạnh từ trước) là tố chất bị lạnh, tố chất hàn lănh là biết rằng không có nhiệt, mặc dù có nhiệt bên trong cũng chỉ là chân hàn giả nhiệt mà thôi. Nói rằng gia Phụ tử, th́ nên cân nhắc vị Hoàng cầm. V́ ở đây không chỉ điều trị hư chứng mà c̣n nói đến hàn chứng nữa.
[Cận Hiệu Phương] Thang Truật phụ trị chứng phong đầu nặng hoa mắt, đắng miệng, không biết mùi vị, ấm áp da thịt, bổ trung, ích tinh khí.
Bạch truật 2 lạng Phụ tử 1,5 củ (nướng bỏ vỏ) Cam thảo 1 lạng (nướng)
Ba vị trên, cắt nhỏ, mỗi phần 5 tiền, gừng 5 lát, táo 1 quả, 1 chén nước, nấu c̣n 7 phân, bỏ bă uống ấm.
{Giải Thích}
Phương này tŕnh bày và phân tích hội chứng và phương pháp điều trị chứng trúng phong nhập tạng, tỳ thận lưỡng hư. Do thận dương không đầy đủ, hàn thấp âm tà thừa cơ xâm nhập, tà khí che lấp bên trên, nên nặng đầu hoa mắt, đắng miệng. Tỳ thận dương hư, không thể vận hoá thuỷ cốc tinh vi, âm khí đ́nh trệ ở trung tiêu, nên không nhận ra mùi vị thực phẩm.
Điều trị bệnh dùng thang Phụ truật có tác dụng ấm áp tỳ thận. Trong phương có vị phụ tử ấm áp thận dương, khôi phục khí dương hoà, khu trừ giải tán trọc khí âm hàn; Bạch truật, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo có tác dụng ấm áp tỳ vị, ôn tán hàn thấp, khôi phục cơ chế vận hoá của tạng tỳ, hoá giải bệnh tà âm trọc, nếu chứng này dùng các vị thuốc khinh dương (轻扬) nhẹ nhàng, có thể khiến cho hư dương vượt lên; Nếu dùng các dược phẩm “Thanh sơ” (清疏) thưa thớt rơ ràng th́ có thể khiến tạng tỳ thụ lạnh, thấp bị đ́nh trệ, nếu dùng dược phẩm trọng trấn (重镇) trấn áp mạnh mẽ, có thể khiến tỳ hư hạ hăm. Cổ nhân lập ra phương pháp Truật phụ, có tác dụng ấm áp tỳ thận, khôi phục khí dương hoà, dùng trị chứng vựng đầu đắng miệng, biểu thị tóm tắt được những điều kỳ diệu ở phương thang này.
[Tuyển Chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú} Thận khí trống rỗng, phong tà thừa cơ xâm nhập, tràn đầy không lối ra, phong kết hợp với trọc khí trong thận, quyết nghịch thượng công khiến đầu huyễn miệng đắng cực độ, kèm theo vị khí hư yếu, không biết mùi vị, như vậy không thể dùng thuốc phong nhẹ nhàng mà trị được bệnh này, v́ thế dùng Phụ tử để ấm áp thuỷ tạng, Bạch truật, Cam thảo để ấm áp thổ tạng, thuỷ thổ đều ấm áp, giống như giếng nước trong tháng mùa đông, thuỷ thổ âm áp, khí dương hoà có thể lập lại, mà trọc khí không khu trừ th́ cũng tự hạ.
[Y Môn Pháp Luật] Theo Nội kinh, trúng phong gồm 4 loại: Một là thiên khô (偏枯) bán thân bất toại, liệt nửa người, hai là phong phi (风痱), thân thể không đau, tứ chi không thu lại được; Ba là phong ư, đột nhiên không nhận ra người quen; Bốn là phong tí, loại tương tự như dạng phong.
Người đời sau nói đến bệnh mà không có phép trị bệnh, {Kim Quỹ}có [Cổ Kim Lục Nghiệm] ba phương có thể suy rộng ra, kinh viết nội đoạt (bị tước đoạt 5 loại tinh khí bên trong) mà quyết lănh là chứng phong phỉ, theo Trọng Cảnh trong phương có thể trị ngoại cảm phong tà kiêm trị nội thương hư chứng, phù hợp với ư viết trong kinh, dùng 3 phương thang để hiển thị quá tŕnh điều trị, thứ nhất là thang Tục mệnh trong {Cổ Kim Lục Nghiệm}, tiếp theo là Thang Tam hoàng trong {Thiên Kim}, thứ ba là thang Bạch truật Phụ tử trong [Cận hiệu]. Phương thứ nhất điều trị trường hợp tố chất doanh vệ hư nhược bệnh tà thừa cơ xâm nhập; Phương thứ 2 trị chứng phong nhiệt quá nóng mà thành bệnh; Phương thứ 3 trị chứng phong đă nhập tạng, tỳ thận lưỡng hư kèm theo các loại phong. Học giả nên t́m hiểu ư của Trọng Cảnh và suy nghĩ đến những phương diện khác như nông sâu và hàn nhiệt của bệnh.
[Bệnh án1]
Bệnh nhân họ Ngô x x nữ, 43 tuổi, Tự kể đă bị huyễn vựng (chóng mặt, trời xoay đất chuyển) 17 năm, thường xuyên phát tác. Khi bệnh phát tác th́ phải nằm yên, chỉ cần chuyển động nhẹ là như ngồi trên thuyền , nặng th́ mất tri giác, một ngày được mời đến trị bệnh, vô t́nh chạm vào cái gối của người bệnh, bệnh nhân liền có cảm giác trời đất xoay chuyển như bay lên trời, hai mắt nhắm chặt không dám mở ra, thần chí hoảng hốt, sau khi nằm yên một lát, thần trí dần dần tỉnh táo. Quan sát thấy bệnh nhân là người béo mập nhưng hư yếu, suốt ngày sợ lạnh, mạch trầm vi, lưỡi trắng nhạt. Xét theo mạch và hội chứng, người bệnh thuộc hội chứng tỳ thận dương hư, nên dùng thang Truật Phụ trong {Cận hiệu}: Phụ tử 15g Bạch truật 9g Chích Cam thảo 6g. Yêu cầu anh ta uống một liều trước, hăy quan sát hiệu quả của nó. Trong lần tái khám, t́nh trạng chóng mặt đă giảm đi rất nhiều, mạch và lưỡi được cải thiện. Sau ba liều theo đơn ban đầu, t́nh trạng chóng mặt về cơ bản đă biến mất. Để củng cố hiệu quả điều trị. Ông đă được điều trị bằng thuốc Bát vị hoàn và theo dơi trong nửa năm nhưng không thấy bệnh tái phát.
[Thôi thị Bát vị hoàn] Trị bệnh cước khí, bụng dưới tê dại.
Can địa hoàng 8 lạng Sơn thù Thự dự mỗi vị4 lạng Trạch tả Phục linh Mẫu đan mỗi vị 3 lạng Phụ tử Quế chi mỗi vị 1 lạng. Tán bột dùng mật làm hoàn như hạt ngô đồng lớn, uống với rượu 15 hoàn, ngày uống 2 lần.
{Giải thích}
Phương dược này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị bệnh cước khí. V́ thận dương hư yếu, không thể vận hoá thuỷ thấp, thuỷ thấp độc khí xâm phạm vào phần dưới cơ thể, theo kinh mạch đi lên trên, tích tụ ở bụng dưới, nên bụng dưới tê dại mất cảm giác.
Điều trị dùng Bát vị hoàn, ôn bổ thận khí, hỗ trợ khí hoá, khiến dương sinh thấp hoá, chứng cước khí tự khỏi.
[Tuyển chú]
{Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển}Kinh mạch của tạng thận khởi đầu từ chân đi lên bụng, thận khí suy yếu, khí hàn thấp theo kinh xâm nhập tích tụ ở bụng dưới, làm cho tê dại, bệnh này không thể trị khỏi bằng thang dược trừ thấp tán hàn, phải dùng thận khí hoàn bồi bổ thận khí, để sinh dương hoá thấp mà có tác dụng trị bệnh.
{Thiên Kim Phương} [Việt Tỳ gia Truật thang}
Trị chứng Nhục cực, nóng nhiệt khiến tân dịch của thân thể thoát tiết, thớ thịt mở rộng, xuất rất nhiều mồ hôi, lịch phong khí (厉风气) là phong nhập doanh phận, hạ tiêu cước nhược (Nhục cực).
Ma hoàng 6 lạng Thạch cao 0,5 cân Sinh khương 2 lạng Cam thảo 2 lạng Bạch truật 4 lạng Đại táo 15 quả
6 vị thuốc trên, dùng 6 thăng nước, đầu tiên nấu vị Ma hoàng, vớt bỏ bọt, cho hết thuốc vào, nấu cạn c̣n 3 thăng, phân uống 3 lần thuốc ấm. Ghét gió gia Phụ tử 1 củ, nướng.
[Từ giải]
Nhục cực: Là chỉ về cơ nhục cực kỳ tiêu sấu (gầy).
Lịch phong khí, là tên hội chứng thời cổ đại, có thể là bệnh ma phong thời nay.
{Giải thích}
Đoạn sách này tŕnh bày và phân tích hội chứng và điều trị phong khí nhập doanh phận, xuất nhiều mồ hôi và hạ cân. Tà khí phong thấp xâm nhập cơ biểu, phong khí nhập doanh phận, khí phù hoá nhiệt, da thịt nóng cực độ nên nhiều mồ hôi, tân dịch thoát tiết nên biểu hư, thớ thịt không kiên cố, xuất hăn không ngừng, tân dịch thoát tiết v́ thế huyết thiểu (huyết đặc), doanh huyết không đến hạ tiêu nên chân yếu. Phong nhập doanh phận là biến hoá của “Lịch phong khí” (厉风气).
Điều trị dùng thang Việt tỳ gia truật, có tác dụng thanh nhiệt tán phong, điều hoà doanh vệ. Trong phương có Ma hoàng để giải tán phong thấp, Thạch cao thanh nhiệt, Bạch truật, Cam thảo kiện tỳ sinh tân dịch, Sinh khương, Đại táo điều hoà doanh vệ. Phương này trị chứng nhiều mồ hôi mà lại dùng Ma hoàng, v́ có tác dụng bồi bổ của Bạch truật, có tác dụng thanh nhiệt của Thạch cao, có thể hạn chế tính tân tán của Ma hoàng mà thành tác dụng trị bệnh. Nếu xuất quá nhiều mồ hôi và có hàn chứng sợ gió, nên chú ư đề pḥng vong dương, có thể gia Phụ tử nướng để trợ dương cố biểu.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]: Đây là phương dược trị phong cực độ biến thành nhiệt. Có thuyết cho rằng phong thắng th́ nhiệt thắng, khi cơ nhục cực nhiệt th́ xuất nhiều mồ hôi, tất tân dịch sẽ thoát tiết, tân dịch thoát tiết th́ bên ngoài (biểu) càng hư tổn, khiến thớ thịt không kiên cố vững vàng, mồ hôi xuất ra không ngừng, sẽ tiết ra rất nhiều mồ hôi, phong nhập doanh phận là lịch. {Nội kinh} viết: Lịch là có vinh khí nóng trong phủ. Nay phong nhập doanh là nhiệt, tức cũng là khí lịch phong. Phong thịnh khí phù, hạ tiêu vốn hư yếu, quyết dương độc hành khiến trọc âm không thể hạ giáng, v́ thế không dưỡng âm nên âm càng hư yếu, khiến hạ tiêu cước nhược, v́ thế nên dùng Ma hoàng thông khí tê, Thạch cao thanh nhiệt ở khí phận, Khương, Táo để hoà doanh vệ; Cam thảo, Bạch truật để điều chỉnh chính khí của tỳ gia. Nhiều mồ hôi mà dùng Ma hoàng là nhờ cậy tác dụng phù trợ chính khí của vị Bạch truật, và tác dụng dưỡng âm của Thạch cao để hạn chế tính phát hăn của Ma hoàng, v́ thế viết thang Việt tỳ gia truật…Xuất mồ hôi quá nhiều gia thêm sợ gió là đề pḥng vong dương nên gia Phụ tử.
Lời Kết
Trọng điểm của thiên này là tŕnh bày và phân tích nguyên nhân, bệnh cơ, chứng trạng và trị pháp của hai bệnh là Trúng phong và Lịch tiết. Nguyên nhân của bệnh trúng phong, có nguyên nhân dụ phát từ bên ngoài, và các nguyên nhân phát bệnh từ bên trong như khí huyết lưỡng hư, can dương thượng kháng và đàm trọc. Bệnh cơ là kinh mạch bị tê liệt trở ngại. Biện chứng nên phân thành các loại như trúng lạc, trúng kinh, trúng phủ, trúng tạng, cần xem xét rơ ràng về hư, thực, hàn, nhiệt, đàm. Thiên này c̣n tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị các chứng như: Phong hàn ở trên đầu của bệnh đầu phong, phong thấp tại b́ biểu của bệnh ẩn chẩn (瘾疹), phong tà trúng cách (膈: là hoành cách) của chứng “Hung măn đoản khí” (胸满短气) là chứng tức ngực thở ngắn và phong nhiệt nhập doanh của chứng Lịch phong khí. Việc điều trị bệnh trúng phong, nếu thuộc khí huyết khuy tổn, hư dương vượt lên, đàm trọc và phong hàn cản trở dương khí, có thể dùng Hầu thị hắc tán thanh can hoá đàm, hoà huyết tán phong; Nếu thuộc hoả nhiệt ở ngũ tạng quá mạnh, huyết nhiệt nghịch lên gây ra các bệnh như phong, tê liệt, động kinh, có thể dùng thang Phong dẫn, thanh nhiệt giáng hoả, trấn kinh tức phong; Nếu thuộc âm huyết khuy tổn can phong tâm hoả nhiễu loạn thành các chứng kiêu căng ngạo mạn, có thể dùng thang Pḥng kỷ địa hoàng , tư âm giáng hoả, dưỡng huyết trị phong; Nếu thuộc phong thấp ở trên như trúng phong hoặc thiên đầu thống (偏头痛) đau nửa đầu, có thể Đầu phong ma tán điều trị bên ngoài, ôn tán phong hàn thấp; Nếu thuộc huyết hư ngoại hàn của chứng trúng phong thiên khô (偏枯) liệt nửa người, hoặc chứng Phi (痱), có thể dùng thang Tục mệnh, tán tà bổ hư; Nếu trúng phong thiên khô (liệt nửa người), phong hàn nhập sâu, uất lại mà hoá nhiệt, có thể dùng thang Tam hoàng, tán hàn thanh nhiệt bổ vệ khí; Nếu thuộc phong hàn nhập tạng, tỳ thận dương hư, nặng đầu chóng mặt và không biết mùi vị, có thể dùng thang Truật phụ để ấm áp tỳ thận; Nếu phong khí nhập doanh phận, xuất mồ hôi quá nhiều, gầy g̣ của bệnh “Lịch phong khí” (厉风气) là những biến hoá khi phong xâm nhập doanh phận, có thể dùng thang Việt t́ gia Truật, thanh nhiệt tán phong, điều hoà doanh vệ. Chỉ từ ư nghĩa của hai phương thang là Hầu thị hắc tán và thang Phong dẫn, đă cho thấy tư tưởng chiến lược điều trị đột quỵ bao gồm điều trị ngoại phong, trị đàm hỏa, trị huyết tí và bổ âm huyết.
Liên quan đến nguyên nhân của bệnh lịch tiết, nguyên nhân bên trong có can thận không đầy đủ, khí huyết lưỡng hư, nguyên nhân bên ngoài gồm đang xuất mồ hôi lại dầm nước, uống rượu ra gió…Nhưng sau khi ngoại xâm nhập, chính tà đấu tranh, có thể hoá hàn, lại có thể hoá nhiệt. Trên phương diện biện chứng có thể phân thành hai loại là phong thấp và hàn thấp. Thang Quế chi Thược dược Tri mẫu trị chứng phong thấp lịch tiết kèm theo nhiệt; Thang Ô đầu trị hàn thấp lịch tiết kèm thiên về hư yếu. Hai phương kể trên đă tóm tắt chỉ ra được phương pháp biện chứng và nguyên tắc điều trị các loại h́nh hàn nhiệt hư thực của bệnh lịch tiết.
Với bệnh cước khí gần giống với bệnh lịch tiết, thuộc về dương hư, thuỷ thấp độc khí xâm nhập hạ tiêu, có thể dùng Bát vị hoàn, ôn thận hoá thấp; Nếu thuộc thấp nhiệt cước khí, xung lên tâm, có thể dùng thang Phàn thạch rửa bên ngoài, giải độc trừ thấp, cũng thu được công hiệu.
Trường Xuân Nguyễn Nghị |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:14:52 | 06 HUYẾT TÍ HƯ LAO
Chương 6
Mạch chứng và điều trị bệnh huyết tí và Hư lao
Khái thuyết
Nội dung của thiên này là tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng huyết tí và chứng hư lao. Trong thiên này gồm 18 điều văn, 11 phương trong đó có 2 phương phụ. Điều 1 và 2 thảo luận về cơ chế phát bệnh, mạch chứng, trị pháp và phương dược của huyết bệnh. Từ điều thứ 3 đến điều 7, và từ điều 10 đến điều 12 thảo luận về mạch chứng, nguyên nhân phát bệnh và cơ chế của bệnh hư lao, có thể tŕnh bày như một khái quát toàn diện của thiên, các điều văn sau đó th́ tŕnh bày sâu hơn về chứng trị và phương dược của bệnh hư lao. V́ hai loại tật bệnh huyết tí và hư lao đều là hư chứng, v́ thế nên hợp chung lại để thảo luận trong cùng một thiên. Chứng trạng chủ yếu của bệnh huyết tí là cơ nhục tê liệt, thường do khí huyết không đầy đủ, cảm thụ ngoại tà mà thành bệnh. Chứng huyết tí ngoại trừ cảm giác tê dại cục bộ, luôn luôn có cảm giác tức trướng ê ẩm và đau nhẹ, cảm giác này khác biệt rơ rệt với chứng đau nhức ở gân xương trên cơ thể.
Hư lao là tật hoạn hư nhược mạn tính, bao gồm mọi hội chứng như khí hư, huyết hư, âm hư, dương hư và âm dương lưỡng hư. Trong thiên này lập luận dựa trên cơ chế phát bệnh của tạng phủ kinh lạc khí huyết âm dương hư tổn, đồng thời đề xuất tư tưởng kế hoạch trị liệu quan trọng là trị thận hư để điều tiết âm dương, trị tỳ hư để điều tiết khí huyết.
1.问曰;血痹病从何得之? 师曰:夫尊荣人骨弱肌肤盛, 重因疲劳汗出,卧不时动摇,加被微风遂得之。但以脉自微涩在寸口,关上小紧,宜针引阳气,令脉和、紧去则愈。
1/Vấn viết: Huyết tư bệnh tùng hà đắc chi: Sư viết: phu tôn vinh nhân (người béo mập ít vận động) cốt nhược cơ phu thịnh, trùng nhân bị lao (mệt mỏi) hăn xuất, ngọa bất thời động dao, gia bị vi phong, toại đắc chi. Đán dĩ
mạch tự vi sáp, tại thốn khẩu quan thượng tiểu khẩn, nghi châm dẫn dương khí, lệnh mạch ḥa khẩn khứ tắc dũ.
[Từ giải]
Tôn vinh nhân (尊荣人); Người phú quư
{Giải thích} Điều văn tŕnh bày phân tích nguyên nhân, cơ chế và pp trị liệu chứng huyết tí. Phàm những người phú quư th́ được ưu đăi, thích nhàn hạ không thích lao động, ăn nhiều thực phẩm béo ngọt, dư thừa cơ bắp, không lao động nên gân xương yếu, dẫn đến can thận suy yếu. Dương hư nên thốn khẩu mạch vi, huyết hư nên thốn khẩu mạch sáp. Dương khí hư nên huyết tuần hành không thông sướng, lại khi mệt mỏi th́ xuất mồ hôi, sau khi xuất mồ hôi th́ cơ thể càng mệt, v́ thế nên thích nằm, khi nằm thỉnh thoảng run rẩy, lúc này nếu có gió thổi vào người, phong hàn bó ở ngoài, phong đấu tranh với huyết, dương khí bị cản trở, huyết tuần hành không thông sướng dễ dàng, nên mạch quan bộ tiểu khẩn, mạch khẩn là có khách tà, mạch vi sáp là khí huyết không thuận lợi, điều trị dùng phép châm thích để dẫn động dương khí tuần hành. Dương khí tuần hành khiến bệnh tà được trừ khứ, bệnh tà đă khứ trừ th́ mạch hoà hoăn không c̣n khẩn, chứng huyết tí tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Dương khí bảo vệ bên ngoài mà kiên cố vững vàng. Do mỏi mệt xuất hăn nên dương khí bị tổn thương, khi nằm đôi khi run rẩy là lúc dương khí lại tổn thương. Mặc dù phong khí nhỏ yếu nhưng nhập thẳng vào huyết mà thành chứng tí. Kinh viết: “Tà nhập vu âm tắc tí dă” (邪入于阴则痹也.) bệnh tà nhập vào âm th́ thành chứng tí. Mạch vi là biểu hiện của dương nhỏ yếu, mạch sáp là huyết trệ, mạch khẩn là biểu hiện của bệnh tà, bệnh tà trong huyết, khởi đầu là do dương khí bị tổn thương mà thừa cơ xâm nhập, sau đó là do dương khí tuần hành thông sướng mà bị xuất khứ; Mà tí gây bệnh, huyết đă v́ phong nhập mà tê liệt ở ngoài, lại cũng v́ chứng huyết tí mà ngưng trệ ở trong (chứng Huyết tí là tà khí ngưng trệ ở huyết phận), v́ thế sẽ châm thích để dương xuất, dương xuất th́ tà khứ, tà được trừ khứ th́ mạch khẩn sẽ thành hoà hoăn, chứng huyết tí đă được thông, qua những tŕnh bày trên đă cho thấy khi huyết phận thụ tí (huyết tí), nếu chỉ đơn độc điều trị huyết là không thoả đáng.
2.血痹,阴阳俱微,寸口关上微,尺中小紧,外证身体不仁,如风痹状, 黄芪 桂枝五物汤主之。
2/Huyết tí, âm dương câu vi, thốn khẩu quan thượng vi, xích trung tiểu khẩn, ngoại chứng thân thể bất nhân, như phong tí trạng, Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật thang chủ chi.
Phương thang Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật
Hoàng kỳ 3 lạng Thược dược 3 lạng Quế chi 3 lạng Sinh khương 6 lạng Đại táo 12 quả
% vị thuốc trên, dùng 6 thăng nước, nấu c̣n 2 thăng, uống ấm 7 hợp, ngày uống 3 lần. Một phương có Nhân sâm.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị bệnh huyết tí. V́ doanh vệ khí huyết đều hư tổn, dương khí không đầy đủ, âm huyết sáp trệ (không linh hoạt, thông sướng), lại cảm thụ phong hàn, nên xuất hiện chi thể tê dại mất cảm giác, gọi là chứng huyết tí. Dương khí không đầy đủ, mạch thốn quan vi. Cảm thụ phong hàn bên ngoài nên xích bộ xuất hiện mạch tiểu khẩn, hội chứng của huyết tí chủ yếu là cơ nhục tê liệt, nếu bệnh tà mạnh cũng có thể phát sinh đau nhức, v́ thế có câu như “Phong tí” (风痹) trạng, mà kỳ thực là không có chứng phong tí đau di chuyển ở các khớp.
Điều trị chứng huyết tí có thể dùng thang Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật. Trong phương có Hoàng kỳ ích cho vệ khí vận hành, Quế chi ôn kinh thông dương, hiệp với Hoàng kỳ thông đạt ra biểu, ấm áp và thông sướng huyết mạch mà nuôi âm huyết; Sinh khương, Đại táo tán phong hàn, bổ doanh huyết, điều hoà doanh vệ. Tiết này kết hợp với tiết bên trên để biết ư nghĩa vốn có của nó. Phương sử dụng ở đây là thang Quế chi, điều kỳ diệu là dùng vị Hoàng kỳ thay thế vị Cam thảo, bội dụng (dùng nhiều) Sinh khương là phép chuyển tải Hoàng kỳ ra ngoài biểu.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Điều này cho biết mạch âm dương thốn khẩu quan thượng đều vi, xích bộ mạch tiểu khẩn, hợp lại xem xét, có thể biết mạch phù trầm của chứng huyết tí, ở các bộ thốn quan xích đều là mạch vi, đều là mạch sáp, đều là tiểu khẩn. Mạch vi cũng là hư chứng, mạch sáp là chứng ứ trệ, tiểu khẩn là có bệnh tà, cho nên chứng huyết tí cũng nên chẩn đoán theo như vậy. Hội chứng bên ngoài của huyết tí, cũng là thân thể tê dại ngoan cố, không biết đau, v́ thế viết: Giống như chứng phong tí (风痹). Nhưng các khớp không đau có tính di động như chứng phong tí. Dùng thang Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật để điều dưỡng doanh vệ là căn bản, là chủ yếu, khứ phong tán tà là ngọn, là thứ yếu.
[Bệnh án]
Họ Kim x x nữ 22 tuổi, công nhân, khám bệnh lần 1 ngày 5/2/ 1976. Một tháng trước khi bệnh nhân dùng nước lạnh để giặt quần áo, đột nhiên thấy hai tay đang trắng xanh chuyển sang màu xanh thẫm, cảm thấy lạnh kèm theo cảm giác tê nhói, phát tác có tính ngắt quăng, mỗi lần có thể kéo dài vài giờ, phải ngâm hai tay vào nước ấm để giảm đau. Khoa Ngoại Tây Y của bệnh viện chúng tôi chẩn đoán là “bệnh Raynaud”. Tolasulin, axit nicotinic, indomethacin, v.v. là các loại thuốc trước đây đă được sử dụng nhưng kết quả không tốt nên tôi chuyển sang điều trị bằng y học cổ truyền. Các chứng trạng như nêu trên, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng hơi dày, mạch huyền khẩn. Người viết cho bệnh nhân uống Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật thang gia giảm. Xử phương: Hoàng kỳ 60g Quế chi 9g Bạch thược 9g Sinh khương 2 lát Hồng hoa 9g Đào nhân 9g Địa long 15g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, liên tục uống 20 thang, các chứng trạng nêu trên hoàn toàn biến mất. Tiếp tục dùng thêm 20 thang, bệnh trạng chưa thấy tái phát.
夫男子平人,脉大为劳,极虚亦为劳。
3/ Phu nam tử b́nh nhân, mạch đại vi lao, cực hư diệc vi lao.
[Từ giải]
Vi lao: Nói về xu thế sẽ thành
{Giải thích}
Điều văn tŕnh bày và phân tích biến hoá của bệnh hư lao, có 2 loại t́nh trạng bệnh là âm và dương. Bệnh nhân hư lao dương khí không đầy đủ, âm huyết hư tổn, v́ âm hư nên dương khí ngoại phù (nổi ra ngoài), v́ thế xuất hiện mạch phù đại vô lực. V́ âm dương khí huyết không đầy đủ, dương khí suy yếu, v́ thế nếu ấn nhẹ th́ mạch tượng mềm, ấn mạnh th́ mạch vô lực. Mạch đại (lớn) và mạch cực hư, đều là đặc điểm mạch của bệnh hư lao, cho thấy khi thận tinh bị tổn hại th́ âm không phối dương, v́ thế xuất hiện mạch đại (lớn); Tỳ khí hư tổn th́ trung khí không đầy đủ, nên xuất hiện mạch hư. Tiên hậu thiên âm dương khí huyết hư tổn chính là cương lĩnh của biện chứng luận trị bệnh hư lao.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Người nam b́nh thường, mạch thường ứng với bốn mùa ngũ tạng, hiện nay mạch đại mà hư cực độ, không phải là mạch của người b́nh thường, như mạch đại mà vô lực là lao dịch (lao động cưỡng bức) tổn thương tỳ khí, mạch cực hư là tổn thương âm tinh của thận. Đó đều là những điềm muốn tạo thành chứng hư lao, cho nên có chẩn đoán như thế.
男子面色薄者,主渴及亡血,卒喘悸,脉浮者里虚也。
4/ Nam tử diệc sắc bạc giả, chủ khát cập vong huyết, thốt suyễn quư, mạch phù giả lư hư dă.
[Từ giải]
Diện sắc bạc: Sắc mặt nhợt nhạt, không hồng hào.
Thốt suyễn quư: Đột nhiên phát sinh khí suyễn, hồi hộp.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày và phân tích biện chứng của bệnh hư lao. Do âm huyết của tâm thận không đầy đủ, huyết khí ít nên sắc mặt không tươi tốt, nên sắc mặt hông sáng nhuận, sắc mặt trắng bệch, gọi là “Diện sắc bạc” (面色薄) sắc mặt xấu (bạc mầu), điều bên trên chú trọng luận mạch, điều này chú trọng luận về sắc, hợp lại để quan sát, chẩn đoán của sắc mạch thấy ở chứng hư lao gây bệnh. Khí huyết không đầy đủ, tất nhiên tân dịch sẽ thiếu thốn, cho nên xuất hiện các chứng trạng như khát nước và thiếu máu, v́ thế sắc mặt xấu. Nếu bệnh nhân đột nhiên phát sinh khí suyễn hồi hộp, chẩn mạch mà phù ở ngoài, th́ biết là lư hư. Khí hư th́ suyễn, huyết thiểu th́ hồi hộp, mà án mạch th́ vô lực, kết hợp phân tích sắc, mạch, chứng như vậy, th́ biết đây là chứng hư lao.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Khát là do nhiệt tổn thương âm khí, mất máu là sắc không tươi, v́ thế sắc mặt xấu th́ biết là khát và mất máu. Họ Lư viết: Lao là khí huyết đều háo tổn, khí hư th́ suyễn, huyêt hư th́ hồi hộp. Thốt là đột nhiên thấy bệnh này. Mạch phù là lư hư, lao động vất vả th́ chân âm thất thủ, cô dương vô căn (không gốc), khí tán ở ngoài, mà tinh bị chiếm đoạt ở bên trong.
男子脉虚沉弦,无寒热,短气,里急,小便不利,面色白,时目瞑兼衄, 少腹满,此为劳使之然。
5/ Nam tử mạch hư trầm huyền, vô hàn nhiệt, đoản khí, lư cấp, tiểu tiện bất lợi, diện sắc bạch, thời mục minh kiêm nục, thiểu phúc măn, thử vi lao sứ chi nhiên.
[Từ giải]
Mục minh: Là nhắm mắt lại. Ở đây “Mục minh” (目瞑) có ư nói là chóng mặt.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày và phân tích bệnh hư lao âm dương lưỡng hư. V́ chân dương trong thận không đầy đủ, tinh huyết bên trong hư thiếu, nên xuất hiện mạch hư trầm huyền; Thận hư không thể nạp khí khiến hô hấp đoản khí; Dương hư không thể ấm áp khiến trong bụng co thắt. Thận hư không thể khí hoá tân dịch nên tiểu tiện không thuận lợi khiến bụng dưới trướng đầy. Can huyết hư th́ sắc mặt trắng nhưng không tươi, âm hư không “tiềm” (潜) thu liễm, ổn định được nên dương nhiệt nhiễu loạn lên trên, khiến bệnh nhân phải nhắm mắt (huyễn vựng) và chảy máu mũi.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám] Mạch hư trầm huyền, âm dương đều không đầy đủ, không hàn nhiệt, chính là âm dương tuy không đầy đủ nhưng cũng không tương thừa (tương khắc thái quá), thở ngắn, mặt trắng, có lúc nhắm mắt chảy máu mũi, là thượng tiêu hư tổn mà huyết không phồn thịnh; Trong bụng co thắt, tiểu tiện không thuận lợi, bụng dưới trướng đầy, là hạ tiêu hư yếu và khí không vận hành. Phàm là mạch chứng như vậy cũng đều do lao khổ mà thành bệnh, v́ thế có câu nói: Đó là do làm việc quá vất vả mà khiến ra như vậy.
劳之为病,其脉浮大,手足烦,春夏剧,秋冬瘥,阴寒精自出,酸削不能行
6/ Lao chi vi bệnh, kỳ mạch phù đại, thủ túc phiền, xuân hạ kịch, thu đông sái, âm hàn tinh tự xuất, toan tước bất năng hành.
[Từ giải]
Toan tước (酸削): Là hai đùi đau ê ẩm, gầy g̣.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày và phân tích quan hệ của khí hậu 4 mùa với chứng hư lao. Tinh của thận bị hư tổn, hư dương nổi ở ngoài, v́ thế xuất hiện mạch phù đại. Âm hư th́ sinh nội nhiệt, nên tay chân rất nóng. Mùa xuân và mùa hạ mộc hoả rất nóng, dương khí nổi ra ngoài, âm khí nội thương nên bệnh tăng nặng. Mùa thu và mùa đông kim thuỷ tương sinh, âm khí được hỗ trợ, dương khí tàng trữ bên trong, v́ thế nên khỏi bệnh. Nhưng hai mùa thu và đông âm khí thịnh dương khí suy, dương hư không thể củng cố thu liễm, có thể tinh dịch sẽ bị trong lỏng lạnh lẽo và tự xuất. Tinh hư th́ thận hư, thận hư th́ xương yếu nhược; hai đùi đau như bị đẽo gọt, không thể đi lại.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Huyền Giải] Mạch phù đại (浮大), tay chân khó chịu, là do dương khí bên trong hư tổn mà bên ngoài có thừa. Hai mùa xuân và hạ dương khí phù thăng (nổi ở ngoài và thăng lên trên), làm bên trong càng lạnh mà bên ngoài càng nóng, nên bệnh tăng kịch liệt; Hai mùa thu đông dương khí trầm giáng (thu vào trong và hạ xuống), v́ thế nhiệt bên ngoài giảm xuống và lạnh bên trong cũng giảm, v́ thế nên khỏi bệnh. V́ trung khí hư bại, không thể tương tác (giao tế) thuỷ hoả, hoả bùng cháy lên trên, thuỷ lạnh ở dưới. Thận là tạng khí bế tàng tích trữ. Thuỷ hàn lănh không thể trữ tàng dương khí, nên âm hàn tinh tự xuất. Thuỷ hàn không thể sinh phát can mộc, nên hai đùi đau nhức không thể đi lại được.
7.男子脉浮弱而涩,为无子,精气清冷一作: 冷。
7/ Nam tử mạch phù nhược nhi sáp, vi vô tử, tinh khí thanh lănh nhất tác: Lănh.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày và phân tích bệnh hư lao loại h́nh thận dương bất túc. Suy luận t́nh trạng bệnh từ mạch phù nhược mà sáp, có thể thấy mạch sáp là biểu hiện của tinh huyết suy yếu, mạch nhược là thận dương bất túc, mạch phù là hư dương không tiềm ẩn, tinh khí không thu liễm, âm dương tinh khí của thận không đầy đủ, v́ thế tinh khí trong lỏng và lạnh, nên không thể có con (vô tử). Chứng này âm dương tinh khí đều suy yếu, có âm mà không có dương th́ không thể sinh, có dương mà không có âm th́ không thể phát triển, chính là ư nghĩa của câu “Tinh khí thanh lănh” (精气清冷) là tinh khí trong lỏng và lạnh.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú] Đoạn văn này tŕnh bày chẩn đoán của mạch vô sinh, hiếm muộn. Tinh của người nam và huyết của người nữ, nếu hai yếu tố tinh và huyết đều phồn thịnh th́ dễ dàng thụ thai. Đương nhiên nếu tinh thịnh th́ mạch cũng thịnh, nếu mạch phù nhược mà sáp, th́ mạch phù là âm hư, mạch nhược là dương không đầy đủ, mạch sáp là biểu hiện của tinh suy, âm dương tinh khí đều hư yếu, là tinh khí trong lỏng lạnh lẽo nên khó thụ thai, cũng gọi là vô tử. Có sinh mà không dục, nguyên nhân cũng do chất lượng kém của tinh khí mà ra. Thiếu người thừa tự có thể không biết mà ǵn giữ nuôi dưỡng tinh khí của bản thân ư.
夫失精家,少腹弦急,阴头寒,目眩一作目眶痛发落,脉极虚芤迟,为清谷亡血失精;脉得诸芤动微紧,男子失精,女子梦交,桂枝龙骨牡蛎汤主之。
8/ Phu thất tinh gia, thiểu phúc huyền cấp, âm đầu hàn, mục huyễn nhất tác khuông thống phát lạc, mạch cực hư khâu tŕ, vi thanh cốc vong huyết thất tinh; Mạch đắc chư khổng động vi khẩn, nam tử thất tinh, nữ tử mộng giao, Quế chi Long cốt Mẫu lệ thang chủ chi.
Phương thang Quế chi gia Long cốt Mẫu lệ {Tiểu Phẩm} viết: Hư nhược phù nhiệt hăn xuất, khứ Quế gia Bạch vi, Phụ tử đều 3 phân, v́ thế viết nhị gia thang Long cốt
Quế chi Thược dược Sinh khương mỗi vị 3 lạng Cam thảo 2 lạng Đại táo 12 quả Long cốt Mẫu lệ mỗi vị 3 lạng.
7 vị trên, dùng 7 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, phân 3 lần uống ấm.
[Từ giải]
Thất tinh gia: Là bệnh nhân thường xuyên mất tinh dịch.
Âm đầu hàn: Chỉ quy đầu người nam bị lạnh.
Mộng giao: Chỉ về hội chứng nam nữ giao hợp trong mơ.
{Giải Thích} Điều này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị âm dương lưỡng hư. Bệnh nhân bị bệnh mất tinh khí đă lâu, v́ thận âm tổn háo thái quá, “Âm hư cập dương” là âm hư ảnh hưởng đến dương nên thận dương cũng hư yếu, thận dương không thể làm ấm hạ tiêu, khí hoá không thuận lợi, âm hàn kết tụ, v́ thế bụng dưới co thắt, quy đầu bị lạnh, đại tiện ra thực phẩm chưa tiêu hoá, mất máu tổn tinh, mạch tượng hư yếu cực độ, mạch tượng khâu tŕ (khâu là mạch tượng rỗng như cọng lá hành, tŕ là chậm), bệnh tinh suy huyết thiểu đă lâu, nên hoa mắt, rụng tóc. Với những chứng trạng nêu trên, thường thuộc chứng nguyên dương rất suy yếu, nhưng cũng có hiện tượng dương khí vi phù, như mạch khâu vong huyết. Mạch khâu động hơi khẩn (vi khẩn), mạch khâu động cho thấy tâm hoả tướng hoả phù việt ra ngoài mà không pḥng thủ, mạch vi khẩn cho thấy hiện tượng âm hàn ngưng tụ vẫn c̣n tồn tại, v́ thế nên xuất hiện các hội chứng người nam thất tinh (mất tinh khí), người nữ mộng giao và bụng dưới co thắt.
Chứng này thuộc âm dương lưỡng hư, và hai loại bệnh chứng là nguyên dương rất suy yếu và dương khí phù động. Khi điều trị nếu dùng phép hỗ trợ dương khí, th́ lo hại động hoả, c̣n dùng phép dưỡng âm, th́ lại sợ tệ tăng hàn. Trương Trọng Cảnh dùng phép điều hoà âm dương, sử dụng thang Quế chi gia Long cốt Mẫu lệ để hài hoà âm dương, giao thông tâm thận. Trong phương Quế chi có tác dụng ôn thông dương khí; Vị Thược dược liễm âm hoăn cấp; Sinh khương kiện vị mà tán âm hàn; Cam thảo bổ ích trung khí; Đại táo bổ âm huyết; Lại gia Long cốt để tiềm dương, Mẫu lệ để liễm âm, an thận ninh tâm, giữ ǵn tinh khí. Bảo đảm duy tŕ hỗ tương âm dương, khi dương kiên cố, âm pḥng thủ tốt, th́ chứng thất tinh tự thu hiệu quả.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Mạch khâu tŕ là biểu hiện của hư yếu cực độ, tinh khí tổn hại (di, mộng tinh) cũng đă ảnh hưởng đến khí, v́ thế bụng dưới bất an, quy đầu lạnh và chóng mặt. Mạch chư khâu động vi khẩn, âm dương tương thừa (tương khắc thái quá) nên tổn thương đến thần và tinh, v́ thế nam tử tổn hại tinh, nữ tử mộng giao (mơ giao hợp). Họ Thẩm gọi là “Lao thương tâm khí, hoả phù bất liễm, tắc vi tâm thận bất giao, dương phiếm vu thượng, tinh cô vu hạ, hoả bất nhiếp thuỷ, bất giao tự tiết, cố bệnh thất tinh, hoặc tinh hư tâm tương nội phù, nhiễu tinh nhi xuất, tức thành mộng giao giả” (劳伤心气,火浮不敛,则为心肾不交,阳泛于上,精孤于下,火不摄水,不交自泄,故病失精, 或精虚心相内浮,扰精而出,则成梦交者) Là vất vả tổn thương khí của tâm, hoả phù việt không thu liễm nên tâm thận không giao tế, dương tràn lên trên, tinh cô độc ở dưới, hoả không giữ được thuỷ nên không giao hợp mà tiết, v́ thế thành chứng thất tinh; Hoặc tinh hư tâm tướng (hoả) nội phù, nhiễu tinh mà xuất th́ thành chứng mộng giao. Họ Từ viết: Thang Quế chi với ngoại chứng có thể giải cơ khứ tà; Với nội chứng có thể bổ hư điều hoà âm dương; Gia Long cốt, Mẫu lệ, với chứng thất tinh mộng giao là bệnh giữa tinh và thần, không như vậy th́ cũng không đủ để thu liễm hoả phù việt.
[Bệnh án]
Họ Phùng, nam, 32 tuổi, cán bộ, khám bệnh 9/12
Bị mộng di thất tinh từ trước khi lập gia đ́nh, sau khi cưới pḥng sự quá độ, nên bị chứng mồ hôi trộm, hơn 1 năm qua, thường đi khám chữa bệnh nhưng không hiệu quả, nhiều th́ 2,3 lần, ít th́ 1 lần, xuất mồ hôi th́ tỉnh giấc, tỉnh dậy th́ triều nhiệt (nóng bừng), hồi hộp khó ngủ lại, mà ngủ là lại xuất hăn, sợ hăi, mỗi đêm đều như vậy. Hiện tại đầu óc tối tăm hoa mắt, thở ngắn đau eo lưng, tinh thần tŕ độn, sắc mặt vàng khô, chất lưỡi nhạt rêu lưỡi mỏng khô, đầu lưỡi hồng, môi khô, nước tiểu lúc trong lúc vàng, đại tiện khi táo khi tốt. Sáu mạch khinh án th́ phù nhu, trọng án vi nhược mà sác, đó là như {Nội Kinh} đă viết về hội chứng “Âm hư giả, dương tất tấu chi, cố thiểu khí, thời nhiệt nhi hăn xuất” (阴虚者,阳必凑之,故少气,时热,而汗 出) âm hư th́ tất nhiên dương sẽ dồn lên, v́ thế thiểu khí, có lúc phát sốt, xuất mồ hôi. Người viết dự định sẽ dùng phép bổ thận thuỷ, điều hoà âm dương, kèm theo tiềm dương cố sáp.
Xử phương: Quê chi 3g Bạch thược 12g chích Cam thảo sao Táo nhân Quy bản giao mỗi vị 9g Sinh, Thục địa mỗi vị 18g Long cốt Mẫu lệ mỗi vị 15g Sinh khương 3g Đại táo 5g. Sắc uống. Sau khi uống 2 thang th́ hết chứng mồ hôi lúc ngủ, tinh thần biến chuyển tốt, sau 5 thang mọi chứng đều hết.
[ Bệnh án 2]
Bệnh nhân họ Vương, nam, 20 tuổi Bệnh thất tinh (mộng di tinh) đêm nào cũng bị, cơ thể rất mỏi mệt, chữa trị nhiều nơi nhưng không hiệu quả. Người viết chẩn mạch thấy mạch huyền hoăn vô lực, lưỡi nhạt mềm và không sáng bóng. Khi hỏi khi ngủ có mơ không th́ bn cho biết trước đây th́ ngủ có mơ c̣n bây giờ th́ không. Biện chứng thuộc tỳ vị bất hoà, tâm thận âm dương bất giao, thuộc hội chứng tinh quan lỏng lẻo.
Xử phương: Quế chi 10g Bạch thược 10g chích Cam thảo 6g Đại táo 12g Sinh khương 10g Long cốt 15g Mẫu lệ 15g Uống liền 5 thang, chứng hoạt tinh không c̣n, tinh thần và ẩm thực của bệnh nhân khá tốt, từ đó khỏi bệnh. [Kinh nghiệm trị bệnh của Lưu Độ Châu]
Phương [Thiên hùng tán]
Thiên hùng 3 lạng sao Bạch truật 8 lạng Quế chi 6 lạng Long cốt 3 lạng
4 vị trên, tán thành bột, uống với rượu mỗi lần 2g, ngày 3 lần, không đỡ, uống tăng lên một chút.
{Giải Thích}
Phương này đề xuất trị pháp của bệnh hư lao. Phương Thiên hùng tán, chủ yếu ôn bổ dương khí, kèm theo là thu liễm tinh khí là tá. Trong phương có vị Thiên hùng hỗ trợ dương ấm áp thuỷ tạng, bổ eo gối, điều hoà huyết mạch, tốt cho da thịt, vị Quế chi ôn thông dương khí; Bạch truật kiện tỳ hoá thấp; Long cốt thu liễm tinh khí. Phương này trị các chứng như ngũ lao thất thương (lao tổn của ngũ tạng và thất t́nh)liệt dương di tinh, mà với vị Bạch truật khai nguồn, Long cốt tiết lưu (khống chế lưu lượng) Thiên hùng củng cố căn bản, cả ba hợp lại làm nổi bật ư của phương thang.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa] “Phương Thiên hùng tán, đặc biệt chủ yếu để ôn bổ dương của trung tiêu, thu sáp thận tinh là phụ, được dùng cho bên dưới dương hư thậm mà bên trên nhiệt khá nhẹ nhàng.
男子平人,脉虚弱细微者,喜盗汗也。
9/ Nam tử b́nh nhân, mạch hư nhược tế vi giả, hỉ đạo hăn dă.
[Từ giải]
Hỉ đạo hăn: Hỉ tương đương “Thiện” hoặc là hay như hay đổ mồ hôi trộm, hoặc hiểu như chữ “đa” thường đổ mồ hôi trộm.
{Giải Thích}
Điều văn tŕnh bày h́nh tượng mạch và hội chứng đạo hăn của âm dương khí huyết đều hư. Mạch tượng hư tế mà vi nhược là mạch không đầy đủ, có thể biết đây là hội chứng âm dương khí huyết bất túc. Dương khí hư nên không thể củng cố vững vàng bên ngoài, âm huyết hư nên không thể pḥng thủ bên trong, v́ thế nên dễ phát sinh đạo hăn (mồ hôi trộm), đạo hăn, ngủ mà xuất hăn, dương thêm vào âm, mà xuất hiện hội chứng âm hư không giữ được.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa]
Nam tử h́nh thể b́nh thường như không bị bệnh. Tuy h́nh thể không bị bệnh, mà mạch th́ hư nhược, chính là dương cũng đă hư tổn, mạch tế mà vi, là âm cũng đă suy giảm, dương tổn tất sẽ dần đến chỗ mất, âm háo sẽ dần đến chỗ vong huyết, kiểm nghiệm ngoại chứng, tất thường đạo hăn. Dương tổn hại th́ biểu không kiên cố, âm tổn th́ nhiệt tự phát. Đều do đạo hăn và cũng là do hư lao vậy.
10.人年五六十,其病脉大者,痹侠背行,若肠鸣,马刀侠瘿者,皆为劳得之。
10/ Nhân niên ngũ lục thập, kỳ bệnh mạch đại (大) giả, tí hiệp bối hành, nhược tràng minh, mă đao hiệp anh giả, giai vi lao đắc chi.
[Từ giải]
Tí hiệp bối hành: Chỉ về hai bên xương sống ở sau lưng có cảm giác tê liệt.
Mă đao hiệp anh: Vật kết hạch sinh ở dưới nách, tên là Mă đao, h́nh dài như con trai, sinh ở cổ th́ gọi là hiệp anh, anh này cũng giống như anh có giải, kết ở cổ. Kết hạch ở đây gọi là hiệp anh.
{Giải Thích}
Điều văn này tŕnh bày biện chứng của 3 loại bệnh hư lao. Người bệnh 5,6 mươi tuổi mà tinh khí suy yếu, hư dương phù vượt ra ngoài, hư hoả bốc lên trên, nên mạch đại (lớn) mà ở giữa th́ mềm. Vệ dương không đầy đủ, khí của mạch đốc suy yếu khiến hai bên xương sống có cảm giác tê liệt, khí hư mà hăm khiến sôi bụng trung tiện; Hoặc có âm hư dương uất, đàm hạch kết ở dưới nách, như h́nh “Mă đao” (马刀) h́nh mă tấu, kết ở một bên gáy, gọi là hiệp anh. Ba loại bệnh nêu trên đều thuộc phạm trù bệnh hư lao.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Con người vào độ tuổi 50 ~ 60, tinh khí suy, mà bệnh mạch lại lớn (đại), là người này cũng đang có phong khí. Chứng tí (tê) ở hai bên sống lưng, chứng tê ở lưng, là dương khí không đầy đủ mà tà khí theo vào. Nếu sôi bụng, kết lại ở nách như h́nh mă tấu, hoặc ở hai bên gáy gọi là hiệp anh, dương khí do hư lao mà trương ra ngoài, hoả nhiệt v́ hư lao mà nghịch lên trên, dương trương ra ngoài th́ hàn động ở trong mà thành sôi bụng, hoả nghịch lên tương bác (kết tụ) với đàm mà thành mă đao, hiệp anh.
11.脉沉小迟,名脱气,其人疾行则喘喝,手足逆寒,腹满,甚则溏泄,食不消化也。
11/ Mạch trầm tiểu tŕ, danh thoát khí, kỳ nhân tật hành tắc suyễn hát, thủ túc nghịch hàn, phúc măn, thậm tắc đường tiết, thực bất tiêu hoá dă.
[Từ giải]
Thoát khí: Nguyên khí thoát mất.
Suyễn hát: Khi phát bệnh th́ mở miệng hít hít mà suyễn.
{Giải Thích}
Điều văn này tŕnh bày hội chứng hư lao loại h́nh dương khí của tỳ thận hư yếu. Mạch trầm tiểu mà tŕ là mạch tượng đặc trưng của tỳ thận dương khí hư tổn, v́ thế c̣n gọi là thoát khí. Thận dương hư không thể nạp khí, làm việc cấp bách th́ hơi thở vội vă mà suyễn. Thận dương hư không thể sưởi ấm tứ chi nên tay chân lạnh ngược lên. Thận dương không đầy đủ, tỳ dương lại suy yếu, công năng vận hoá của tỳ vị không tốt, nên không tiêu hoá được ẩm thực, v́ thế xuất hiện các chứng như đầy bụng, phân lỏng nát. Thận dương hư nên sức sống suy yếu, tỳ dương hư nên nguồn sinh hoá khí huyết không đủ, chính là một loại bệnh hư lao khó khôi phục, v́ thế gọi là “Thoát khí” (脱气) để nói lên độ nghiêm trọng của bệnh.
[Tuyển chú]
[Y Tông Kim Giám]: Mạch trầm, tiểu, tŕ là dương hư thậm nên gọi là thoát khí. Thoát khí là đại khí trong lồng ngực hư thiểu, không đủ để thở, v́ thế phát bệnh suyễn. Dương hư nên hàn lănh, hàn nhiều ở ngoài nên tứ chi không ấm áp, v́ thế chân tay cũng lạnh ngược lên. Hàn nhiều ở bên trong, nên bệnh nhân đầy bụng, phân lỏng, ăn uống cũng khó tiêu.
12.脉弦而大,弦则为减,大则为芤,减则为寒, 芤则为虚,虚寒相搏,此名为革。妇人则半产漏下,男子则亡血失精。
12/ Mạch huyền nhi đại, huyền tắc vi giảm, đại tắc vi khâu, giảm tắc vi hàn, khâu tắc vi hư, hư hàn tương bác, thử danh vi cách. Phụ nhân tắc bán sản lậu hạ, nam tử tắc vong huyết thất tinh.
{Giải thích}
Điều văn này tŕnh bày mạch khâu cách chủ về vong huyết thất tinh. Như Trần Tu Viên đă ghi chú: Mạch khinh án (ấn tay nhẹ) th́ huyền mà trọng án (ấn tay mạnh) th́ thấy mạch đại (lớn), mạch huyền là dương vi (微) là nhỏ bé mà chậm giảm, đại th́ trung thịnh (giữa nhiều) mà trung khâu (trong rỗng), giảm th́ dương không thể tự phấn chấn v́ hàn, khâu là âm không nội thủ ở trong trống không (trung hư), hư và hàn tương bác gọi là cách. Mạch cách không dễ hiểu, lấy hai mạch huyền giảm và mạch khâu hư để h́nh dung, th́ sẽ hiểu được mạch cách. Xuất hiện mạch này là biểu hiện của chính khí không đầy đủ, khí huyết hư hàn, Phụ nữ không thể an thai mà “bán sản” (半产) cũng gọi là lưu sản hoặc tiểu sản đều có nghĩa là sẩy thai, không thể điều hoà kinh nguyệt mà lậu hạ (rong kinh), người nam xuất hiện mạch này th́ không thống nhiếp được huyết dịch mà vong huyết, không tàng trữ được tinh mà thất tinh (di, hoạt tinh).
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]
Mạch huyền là dương không đầy đủ, nên (trọng án) là giảm là hàn * Mạch cách: “Mạch lai huyền đại, án chi tắc không” (脉来弦大,按之则空).
Mạch đại (大) âm bất túc, v́ thế là khâu là hư. * Mạch khâu: “Mạch lai phù đại nhi nhuyễn án chi trung không” (脉来浮大而软,按之中空). Âm dương cùng hư, bên ngoài mạnh bên trong khô, gọi là mạch cách. Và cũng có những thay đổi. Với mạch tượng này , phụ nữ bán sản , lậu hạ, nam tử mất máu, thất tinh, không thể sinh dục sản nhũ là điều b́nh thường, nên gọi là cức (một âm khác của cách) là bệnh nghiêm trọng.
虚劳里急,悸,衄,腹中痛,梦失精,四肢酸疼,手足烦热,咽干口燥, 小建中汤主之。
13/ Hư lao lư cấp, quư, nục, phúc trung thống, mộng thất tinh, tứ chi toan đông, thủ túc phiền nhiệt, nhiết can khẩu táo, tiểu kiến trung thang chủ chi.
Phương thang Tiểu kiến trung
Quế chi 3 lạng, bỏ vỏ Cam thảo 3 lạng, nướng Đại táo 12 quả Thược dược 6 lạng Sinh khương 3 lạng Giao di 1 thăng 6 vị thuốc trên dùng 7 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, bỏ bă cho giao di (đương cát) vào nấu cho tan bằng lửa nhỏ, uống ấm 1 thăng, ngày 3 lần. Người hay ẩu thổ không dùng thang này v́ nó có vị ngọt
{Thiên Kim} Điều trị nam nữ v́ tích tụ hàn lănh gây khí trệ, hoặc sau khi bị bệnh nặng không hồi phục b́nh thường, nếu tứ chi nặng nề, xương thị đau nhức ê ẩm, hô hấp kém, hành động th́ phát suyễn và mệt, tức ngực thở gấp, eo lưng cứng đau, hồi hộp, môi miệng khô háo, sắc mặt và thân thể kém, hoặc ăn uống không biết ngon, bụng sườn trướng đầy, đầu nặng trĩu, nằm nhiều dậy ít, bệnh nặng kéo dài hàng năm, bệnh nhẹ th́ hàng trăm ngày, ngày một gầy yếu, khí của ngũ tạng suy kiệt, khó để hồi phục b́nh thường, sáu mạch đều bất túc, hư hàn thiểu khí, bụng dưới co thắt, gầy yếu phát sinh trăm bệnh, tên của phương thang là Hoàng kỳ kiến trung, lại gia thêm Nhân sâm 2 lạng.
{Giải thích}
Đoạn văn tŕnh bày biện chứng luận trị tỳ vị âm dương lưỡng hư. Khi tỳ vị suy nhược th́ nguồn âm huyết và dương huyết sẽ không sung túc đầy đủ, có thể phát sinh 3 loại bệnh là âm dương suy bại, hư dương thượng phù và dinh dưỡng bất túc, có các hiện tượng như âm dương mất điều hoà, hàn nhiệt thác tạp (đan xen vào nhau). Nếu thiên về hàn, th́ dương khí không thể sưởi ấm, âm huyết không thể nuôi dưỡng nội tạng, khiến xuất hiện lư cấp (muốn đại tiện) và đau bụng. Nếu thiên về nhiệt, âm hư nội nhiệt, hư dương phù động, khiến cho tay chân rất nóng; môi miệng khô háo, chảy máu mũi, mơ nhiều mộng tinh. Nếu khí huyết hư không thể nuôi dương cơ nhục, khiên cho chân tay đau ê ẩm; Huyết không nuôi tâm sẽ gây hồi hộp.
Từ những diễn biến trên có thể thấy, trong t́nh trạng âm dương mất điều hoà, bổ âm sẽ gây trở ngại cho dương, bổ dương tất sẽ tổn hại âm, chỉ khi sử dụng thuốc cam ôn (ngọt ấm) để khôi phục công năng vận hoá của tỳ vị, khi tỳ vị vận hoá b́nh thường, th́ nguồn của âm dương khí huyết sẽ sung túc đầy đủ, khiến âm dương thăng bằng, doanh vệ điều hoà, và các chứng trạng hàn nhiệt đan xen tự nhiên giảm dần rồi biến mất. Dùng thang Tiểu kiến trung căn bản trị hư lao với dụng ư là vị ngọt, ôn bổ tỳ vị, để bồi bổ nguồn sinh hoá, bên trong điều hoà khí huyết, bên ngoài điều hoà vinh vệ, khiến âm dương thoải mái. Trong phương có Quế chi cay ấm thông hành dương khí, ôn trung tán hàn; Di đường vị ngọt, hoăn cấp giảm đau, kết hợp với vị Thược dược chua ngọt để hoá âm, kết hợp với Quế chi cay ấm để hoá dương; Thược dược vị chua thu liễm âm huyết, dưỡng vị b́nh can; Vị Cam thảo cam b́nh (ngọt vừa), điều trung ích khí, đại táo bổ tỳ thêm tân dịch, Sinh khương kiện vị lư khí. Phương thang này có tác dụng điều hoà doanh vệ, hoà âm dương, v́ sao lại có tên là Kiến trung? Viết: Trung cũng là tỳ vị, doanh vệ sinh thành từ thuỷ cốc, mà thuỷ cốc vận chuyển ở tỳ vị, v́ thế khi trung khí được thành lập th́ doanh vệ lưu hành, mà không mất đi ư nghĩa điều trị.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển]: Cũng là phép hoà âm dương, điều doanh vệ. Mà đạo nhân sinh, viết âm viết dương, âm dương hoà b́nh, trăm tật không sinh. Nếu dương bệnh không hoà với âm, khiến âm độc hành với hàn, là lư cấp (mót đại tiện ) là đau bụng, mà thực ra không phải là thịnh âm (âm quá nhiều); Âm bệnh không thể hoà với dương, khiến dương độc hành với nhiệt, xuất hiện tay chân phiền nóng, miệng họng khô háo, mà thực ra không phải là dương đang mạnh mẽ, nếu u mê mà dùng hàn công nhiệt, dùng nhiệt công kích hàn, hàn nhiệt thành nội tặc, khiến bệnh càng tệ, duy chỉ có các dược phẩm ngọt, chua và cay kết hợp thành thang tễ, điều hoà khiến dương đến đượcvới âm, lạnh lẽo được ấm áp; Âm đến được với dương để nóng nhiệt hoà hoăn. Nghề y sở dĩ đáng quư là phải nắm vững những điều căn bản, nếu chỉ biết hàn có thể trị nhiệt, nhiệt có thể trị hàn th́ thật đáng thương thay. Hoặc hỏi muốn hoà âm dương, điều doanh vệ tất phải dùng thang Kiến trung là tại sao? Gọi là Trung cũng chính là nói đến tỳ vị, doanh vệ sinh thành ở thuỷ cốc, mà thuỷ cốc lại do tỳ vị vận chuyển. V́ thế thành lập trung khí th́ doanh vệ vận hành được điều hoà. Lại nữa, trung là trục của tứ vận (Trung ương thổ trong ngũ hành) và là máy của âm dương . V́ thế khi trung khí thiết lập th́ âm dương tuần hành cùng nhau như ṿng tṛn không ngừng, không thiên lệch và không có điểm cuối. Chính là vị ngọt hợp với vị cay để sinh dương, và vị chua hợp với vị ngọt mà hoá âm, âm dương tương sinh, trung khí tự lập. Đó là muốn hoà âm dương tất phải cầu ở trung khí, muốn lập được trung khí th́ tất phải có Kiến trung thang.
[Bệnh án]
Họ Tào nam 11 tuổi
Khám bệnh lần 111/7/1972, Đau bụng tái phát nhiều lần, đă hơn 1 năm, gần đây sốt liên tục, mà bụng có lúc đau lúc không, phân có lúc khô lúc lỏng, có lúc ra máu, ăn uống kém, sắc mặt vàng vọt, thân h́nh gầy g̣, mạch hư nguyễn, chất lưỡi nhạt, không có rêu lưỡi. Tây y khoa ngoại chẩn đoán viêm tiểu tràng. Chẩn đoán theo đông y bệnh thuộc Thái âm hư hàn, doanh vệ thất hoà, tỳ bất nhiếp huyết, điều trị dùng thang Tiểu kiến trung.
Xử phương: Quế chi 3g Bạch thược 9g Ổi khương 3 lát Hồng táo 5 quả Chích Cam thảo 3g Đương phèn 30g (xung). 4 thang.
Khám lần 2 (15/7) Hết đau bụng, phân c̣n máu, sốt nhẹ không hạ, ăn uống ít, mạch và lưỡi vẫn như cũ. Cùng phương cũ, tăng thêm bổ dược gia Đảng sâm 6g, Hoàng kỳ 9g. 4 thang.
Khám lần 3 (19/7), hết đau bụng, hết ra máu, sắc mặt tốt hơn, nhưng phân chưa khuôn (vẫn nát), ăn uống vẫn kém, mạch trầm, lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhuận. Đó chính là trung hạ hư hàn, cần ôn lư phù dương, dùng Phụ tử lư trung thang gia vị điều trị bệnh này.
Xử phương: Đảng sâm 6g tiêu Bạch truật 9g, Khương thán 3g, chích Cam thảo 3g Trần b́ 3g. Đạm Phụ tử 4.5g, Hoài sơn 12g, Mộc hương 3g nướng. 5 thang.
Khám lần 4 (24/7) Đại tiện điều hoà, ăn uống tốt hơn, nhưng cũng có lúc sốt nhẹ, mạch tế, lưỡi nhạt. Lại dùng cam ôn thoái hư nhiệt, tái dụng thang Tiểu kiến trung gia vị
Xử phương: Quế chi 3g, Bạch thược 9g, Ổi khương 3 lát, Hồng táo 5 quả, chích Cam thảo 3g, Đường phèn 30g (xung), Đảng sâm 9g, tiêu Bạch truật 9g, Vân linh 9g, Sơn dược 12g. 5 thang.
Sau khi uống thuốc hết sốt, kiểm tra bằng tây y mọi chuyện đều tốt và được xuất viện. (Tạp chí Trung y 1980)
虚劳里急,诸不足,黄芪建中汤主之,于小建中汤内加黄芪一两半,余依上法。气短 胸满者,加生姜,腹满者,去枣加茯苓一两半,及疗肺虚损不足,补气加半夏三两
14/ Hư lao lư cấp, chư bất túc, Hoàng kỳ kiến trung thang chủ chi. Vu Tiểu kiến trung thang nội gia Hoàng kỳ nhất lạng bán, dư y thượng pháp, khí đoản hung măn giả, gia Sinh khương, phúc măn giả, khứ táo gia Phục linh nhất lạng bán, cập liệu phế hư tổn bất túc, bổ khí gia Bán hạ 3 lạng.
{Giải thích}
Đoạn văn này tiếp nhận luận thuật của điều văn kế bên trên để tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị của chứng âm dương lưỡng hư mà vệ khí thiên về hư. Điều trên luận về tỳ vị lưỡng hư dẫn đến nguồn cúa doanh vệ khí huyết không đầy đủ, nếu khí hư thậm, h́nh thành lư hư mạch cấp đau bụng đến các chứng như chóng mặt, hồi hộp, suyễn, thất tinh vong huyết, và lại xuất hiện các chứng như mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự hăn th́ có thể điều trị bằng thang Hoàng kỳ kiến trung.
Thang Hoàng kỳ kiến trung là thang Tiểu kiến trung gia Hoàng kỳ để bồi bổ khí của tỳ và phế, và có công dụng ích khí sinh tân dịch, bổ khí cố biểu cầm mồ hôi.
Nếu v́ dương khí không thể sưởi ấm, hàn ngưng khí trệ trong phế, tụ thấp sinh đàm gây ra các chứng như thở ngắn, tức ngực th́ gia thêm Sinh khương tán ẩm hoá đàm để lư khí; Nếu đàm thấp đ́nh trệ trong phế, phế khí không hạ giáng phát sinh ho ngược lên th́ gia thêm vị Bán hạ để giáng nghịch trừ đàm; Nếu hàn thấp ngưng trệ ở tỳ vị, khiến công năng vận hoá thất thường, gây đầy bụng và tiểu tiện không thuận lợi, th́ gia Phục linh thấm thấp để lợi tiểu. Khứ đại táo vị ngọt, để tránh khó tiêu; Phương dược này cũng có tác dụng điều trị bệnh loét dạ dày và thập nhị chỉ tràng, nếu biện chứng đúng phép, hiệu quả thu được rất tốt.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]: Thang Tiểu kiến trung, căn bản được sử dụng hoá khí của tạng tỳ, mà da thịt th́ do tỳ sản sinh, Hoàng kỳ có thể đi đến da thịt và tăng cường vị khí, v́ thế Hoàng kỳ được dùng để bổ sung thiếu sót, hai vị Quế và Thược có tác dụng bồi bổ âm dương toàn thân, mà Hoàng kỳ , Di đường cũng có thể bồi bổ âm dương trong tạng tỳ. Nếu thở ngắn, tức ngực th́ gia Sinh khương, gọi là ẩm khí trệ dương, v́ thế Sinh khương là vị thuốc nên dùng. Nếu đầy bụng nên khứ Táo gia Phục linh, trừ ẩm và cũng là điểu chỉnh tỳ khí. Khí không thuận gia thêm Bán hạ, v́ trừ nghịch cũng chính là sửa chữa bổ sung.
[Bệnh án]
Họ Dịch x x, nam, 33 tuổi, y sinh.
Tháng 4 năm 1974. Bệnh nhân bị bệnh lao phổi hơn 10 năm, khạc ra máu nhiều lần, điều trị bệnh lao bằng tây y, dùng các trị pháp của Đông y như Tư âm bảo phế hoặc Kim thuỷ song bồi, hiệu quả vẫn không rơ ràng. Chụp X quang lồng ngực cho thấy âm ảnh phía trên bên phải, mật độ thậm cao, tả phế và phía dưới bên phải phổi có thấu lượng độ tăng cao, chẩn đoán là phế ngạnh biến, phế khí thũng.
Xuất hiện các chứng trạng như sợ gió tự xuất mồ hôi, hồi hộp thở ngắn, sắc mặt không tươi, cơ thể gầy yếu, bụng dưới co thắt, tay chân phiền nóng, ăn uống không tiến, miệng họng khô, nước tiểu trong, phân ít, mạch hư tế, trước tiên dùng Nguyệt hoa hoàn, Bách hợp cố kim thang tất cả đều vô hiệu. Chứng này là bệnh phổi lâu ngày, tử đạo mẫu khí (子盗母气) là tạng con bị bệnh liên luỵ tạng mẹ (theo đường tương sinh) phế kim bị bệnh ảnh hưởng tạng tỳ thổ, tỳ vị khuy hư, không có nguồn sinh hoá. Dùng thang Hoàng kỳ kiến trung gia Nhân sâm: Hoàng kỳ 20g, Nhân sâm 10g, Đường phèn 30g, Bạch thược 20g, Quế chi 7g, chích Cam thảo 10g, Sinh khương 2 phiến, Đại táo 5 quả.
Uống đến 10 thang th́ mọi chứng đều giảm, ăn uống tăng tiến, tinh thần biến chuyển tích cực. Hiệu quả không thay phương, tiếp tục cho bệnh nhân uống phương thang trên, uống đến thang 30 th́ mọi chứng trạng giảm rất nhiều, ăn uống như người b́nh thường, sắc mặt hồng nhuận, tăng được 4 cân, uống đến thang 70 th́ mọi chứng trạng đều hết, khôi phục công tác toàn ngày.
虚劳腰痛,少腹拘急,小便不利者,八味肾气丸主之。方见妇人杂病中.
15/ Hư lao yêu thống, thiểu phúc câu cấp, tiểu tiện bất lợi giả, Bát vị thận khí hoàn chủ chi. Phương kiến phụ nhân tạp bệnh trung.
{Giải thích}
Đoạn văn tŕnh bày biện chứng luận trị chứng âm dương của tạng thận song hư. Âm dương của thận cùng hư tổn th́ âm không thấm ướt và dương không sưởi ấm, khí huyết trống rỗng th́ bụng dưới đau trướng không thoải mái, eo lưng đau, mỏi gối, tứ chi lạnh, sợ lạnh, thận và bàng quang có tương quan biểu lư, nếu dương không đầy đủ th́ khí hoá không tốt nên tiểu tiện khó khăn. Dùng phương Bát vị thận khí hoàn, bổ âm hư để sinh khí, hỗ trợ dương hư nhược để hoá âm, dương được sinh âm được hoá, khí hoá vận hành th́ các chứng tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Trực giải]: Eo lưng là t́nh trạng bên ngoài của thận, thận hư th́ eo lưng đau. Thận và bàng quang có quan hệ biểu lư (trong ngoài), không được dương khí của tam tiêu quyết độc (决读) là thông điều thuỷ đạo th́ tiểu tiện bất lợi mà bụng dưới câu cấp (trướng đầy khó chịu), quan Châu đô (tên cổ của bàng quang) không thể khí hoá, đó là dương trong thuỷ đă suy yếu, khí chuyển động giữa hai thận (thận âm thận dương) đă hư tổn, với phương dược bổ ích khí giữa hai thận, khi khí mạnh mẽ th́ tiểu tiện thông sướng mà bụng dưới trướng đầy khó chịu cũng hết.
[Bệnh án]
Họ Bạch x x, nữ, 26 tuổi. Một năm qua hồi hộp, tức ngực, vựng đầu, nhiều mồ hôi, miệng khô, eo lưng ê ẩm, mỏi đùi, huyết áp 130/90 mm thuỷ ngân, tâm suất 120~180/ phút, điện tâm đồ cho thấy nhịp tim nhanh xoang và không t́m thấy những thay đổi hữu cơ liên quan. Bệnh nhân được chẩn đoán là hội chứng tăng chức năng thụ thể giao cảm. Đó là thuộc tâm thận dương hư, cho bệnh nhân dùng thang Kim quỹ tận khí gia giảm: Thục phụ tử Quế chi Sơn dược Sơn thù Trạch tả Sinh địa Đan b́ Phục linh mỗi vị 9g. Điều trị hơn 1 tháng, mọi chứng giảm dần và hết.
[Bệnh án 2]
Họ Trần x x, nữ, 34 tuổi
Bệnh đă 2 nặm, chứng trạng là miệng họng khô và liên tục muốn uống nước, nhưng chứng miệng họng khô không giảm, ngược lại lại tiểu tiện nhiều, nhất là về ban đêm, nước tiểu trong và nhiều tiểu tiện dễ dàng, ngoài ra trong ṿng 3 đến 5 ngày, đột nhiên đau ở bụng dưới, khi đau th́ toàn thân phát lạnh, , sởn gai ốc, giống như khi cảm mạo phong hàn.
Kinh nguyệt b́nh thường, nhưng huyết trắng khá nhiều, mạch của bệnh nhân trầm mà vô lực, rêu lưỡi trắng mỏng và nhuận (ướt), cổ họng b́nh thường.
Biện chứng: Thận khí suy hư, khí hoá không vận hành, nước không biến thành tân dịch, khiến cổ họng khô háo, hư thiếu nên uống nước để tự cứu, nhưng dù uống nhiều nước, nước vào người không thể biến thành tân dịch, v́ thế cổ họng vẫn khô khan không hết. Hiện tại dương khí ở dưới suy yếu, nên âm khí độc trị, v́ thế tiểu đêm nhiều và đau bụng dưới, {Nội kinh} viết: “Tam tiêu bàng quang giả, thấu lư hào máo kỳ ứng” (三焦膀胱者,腠理毫毛其应) th́ chứng trạng đau bụng và toàn thân phát lănh như một điều tất nhiên thôi. Tên bệnh “Thận tiêu” (肾消), không dùng Bát vị địa hoàng hoàn th́ không thể trị khỏi bệnh này. Uống tổng cộng 2 cân thuốc, mọi chứng đều hết.
虚劳诸不足,风气百疾,薯蓣丸主之。
16/ Hư lao chư bất túc, phong khí bách tật, Thự dự hoàn chủ chi.
Phương [Thự dự hoàn]
(Phương kinh nghiệm của Lưu Độ Châu)
Thự dự 30 phân Đương quy Quế chi Khúc (men rượu) Can địa hoàng Đậu hoàng quyển mỗi vị 10 phân Cam thảo 28 phân Nhân sâm 7 phân Khung cùng Thược dược Bạch truật Mạch môn Hạnh nhân mỗi vị 6 phân Sài hồ Cát cánh Phục linh mỗi vị 5 phân A giao 7 phân Can khương 3 phân Bạch liễm 2 phân Pḥng phong 6 phân Đại táo 100 quả làm thành cao, tán thành bột 21 vị thuốc dùng mật làm hoàn như hạt ngô đồng lớn, khi bụng trống uống 1 hoàn với rượu, 100 hoàn là 1 tễ.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng khí huyết lưỡng hư lại thêm cảm thụ phong tà. Bệnh nhân hư lao, v́ tỳ vị hư nhược, khí huyết không đầy đủ nên dễ bị phong tà xâm phạm, v́ thế nên phế khí uất bế, khiến trong ḷng phiền uất, lưng ê ẩm và xương khớp rất đau, phong tà quấy nhiễu bên trên khiến đầu vựng mắt hoa, tỳ vị hư nhược nên ăn ít và tiêu hoá kém; Khí huyết hư tổn nên thở ngắn, mệt mỏi, gầy g̣, hồi họp và mất ngủ. Điều trị chứng này nếu chỉ đơn thuần dùng phép bổ ích khí huyết th́ dễ lưu giữ bệnh tà trong lư, c̣n nếu chỉ đơn thuần công tà th́ lại lo rằng sẽ gây tổn hại cho chính khí, cần có một trị pháp có thể chiếu cố cả chính và tà, có thể khứ tà mà không tổn thương chính khí, có thể phù chính mà không lưu tà. Thự dự hoàn, quân dược là Thự dự kiện tỳ ích âm, chủ yếu phù trợ chính khí; Thần dược gồm Nhân sâm, Phục linh, Bạch truật, Sinh khương, Đại táo phù tá Thự dự kiện tỳ để ích khí, Đương quy, Xuyên khung, Thược dược, Can địa hoàng, Mạch đông, A giao dưỡng huyết và bổ âm, phối với Sài hồ, Pḥng phong, Quế chi khứ phong để tán tà; Cát cánh, Hạnh nhân, Bạch liễm lợi phế khai uất, vận hành trị khớp, tá dược gồm Đậu quyển, Thần khúc vận hành tỳ khí và dược lực, để có tác dụng bồi bổ mà không gây tŕ trệ khó tiêu.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận chú]: Tại đây không chỉ nói đến chứng lư cấp, mà trong ngoài đều xuất hiện hội chứng bất túc, như vậy không chỉ có lư cấp mà c̣n là hư chứng, tuy khá phù hợp với hội chứng Hoàng kỳ kiến trung, nhưng phần trước chỉ đề cập đến chứng lư cấp nên trị pháp chủ yếu là kiến trung, c̣n ở đây có quá nhiều phong khí bách tật, nên Thự dự hoàn chủ trị bệnh này, như thuốc hoàn này chẳng phải chỉ dành riêng cho phong khí hay sao? Không biết rằng hội chứng hư lao đa phần có kèm theo phong khí, nên không thể chỉ chú ư đến phong, v́ thế Trọng Cảnh dùng Tứ quân, tứ vật dưỡng khí huyết, Mạch đông, A giao, Can khương, Đại táo bồi bổ phế vị, với Cát cánh, Hạnh nhân khai đề phế khí, Quế chi hành dương, Pḥng phong vận tỳ, Thần khúc khai uất, Hoàng quyển tuyên (khai thông) thận, Sài hồ thăng khí thiếu dương, Bạch liễm hoá phong trong vinh phận. Tuy có phong và chưa có phương án chuyên trị, nhưng có câu: Khi chính khí vận hành th́ phong khí cũng tự khứ. Điều này phù hợp nhất ở Thự dự hoàn, và với tên của thang dược này, với tính chất không hàn không nhiệt, không khô khan không hoạt nhuận, phù hợp với tỳ và thận, được dùng làm Quân dược khiến các vị thuốc khác đều tương trợ, và đây cũng chính là đạo lư của bài thuốc.
虚劳虚烦不得眠,酸枣汤主之。
17/ Hư lao hư phiền bất đắc miên, Toan táo thang chủ chi.
Phương thang Toan táo
Toan táo nhân 2 thăng Cam thảo 1 lạng Tri mẫu 2 lạng Phục linh 2 lạng Khung cùng 2 lạng Thẩm sư có Sinh khương 2 lạng.
5 vị thuốc trên, dùng 8 thăng nước, nấu vị Toan táo nhân c̣n 6 thăng, cho tất cả vào nấu c̣n 3 thăng, phân 3 lần uống ấm.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng hư phiền thất miên (mất ngủ). V́ can huyết không đầy đủ, huyết táo (khô ráo) sinh nhiệt, nhiệt quấy nhiễu tâm, v́ thế tâm phiền mà không ngủ được, hư hoả bốc lên, v́ thế miệng họng khô, đạo hăn, vựng đầu hoa mắt, huyết hư nên tâm hư, tâm hư nên hồi hộp.
Thang Toan táo nhân có vị Toan táo nhân nuôi dưỡng can huyết, an tâm thần, Xuyên khung điều can dưỡng huyết giải uất, Phục linh, Cam thảo bổ tỳ hoà trung, ninh tâm an thần, Tri mẫu tư âm giáng hoả, nuôi dưỡng âm của phế thận để trừ phiền khát.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Biên chú]: Hư lao là hư yếu, kiêm phiền là có hoả, không ngủ được là do khí không thuận, những điều này trách ở tạng tâm, khi tâm hoả mạnh, đúng là do can khí uất mà hồn bất an, mộc có thể sinh hoả, v́ thế dùng vị Toan táo nhân làm quân dược nhập can an thần; Xuyên khung thông uất cho can khí, Tri mẫu mát khí của phế vị, Cam thảo tả tâm khí thực, Phục linh dẫn hạ khí về hạ tiêu là tá dược. Tuy gọi là hư phiền, mà thực ra cũng chưa từng dùng vị thuốc nào để bổ tâm.
18/五劳虚极,羸瘦腹满,不能饮食,食伤、忧伤、饮伤、房室伤、饥伤、 劳伤、经络荣卫气伤,内有干血,肌肤甲错,两目黯黑,缓中补虚,大黄𢋙丸主之。
18/Ngũ lao hư cực, luy sấu phúc măn, bất năng ẩm thực, thực thương, ưu thương, ẩm thương, pḥng thất thương, cơ thương, lao thương, kinh lạc vinh vệ khí thương, nội hữu can huyết, cơ phu giáp thác, lưỡng mục ảm hắc, hoăn trung bổ hư. Đại hoàng𢋙 hoàn chủ chi.
Phương Đại hoàng𢋙hoàn
Đại hoàng 10 phân, chưng Hoàng cầm 2 lạng Cam thảo 3 lạng Đào nhân 1 thăng Hạnh nhân 1 thăng Thược dược 4 lạng Can địa hoàng 10 lạng Can tất 1 lạng Thuỷ điệt 100 con Tề tào 1 thăng Miết trùng ½ thăng
12 vị trên, tán thành bột, luyện mật làm hoàn như hạt đậu nhỏ, uống với rượu mỗi lần n5 hoàn, ngày 3 lần.
[Từ giải]
Luy sấu (羸瘦): Thân thể cơ bắp gầy yếu vô lực
Lưỡng mục ảm hắc (两目黯黑): Có 2 loại giải thích: 1 là mắt có màu đen, hai là mắt nh́n sự vật thấy màu đen. Nên dùng cách giải thích thứ nhất.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày&phân tích biện chứng luận trị chứng hư lao có ứ huyết. Do các loại tổn thương như ẩm thực, ưu tư, ẩm thương (tổn thương do uống), tổn thương do pḥng thất, tổn thương do đói, lao thương, kinh lạc vinh vệ bị tổn thương, mà lao nhiệt nung nấu, khiến kinh lạc doanh vệ khí huyết vận hành không thông sướng, dẫn đến bên trong huyết bị khô, da thịt không tươi nhuận mà bị khô như có vảy; V́ máu bên trong bị khô, khí huyết không thể nuôi dưỡng bên trên, v́ thế hai mắt có màu đen sẫm, ứ huyết tích tụ trong bụng, khiến bụng đầy cứng, đau mà không di động (đau cố định) , mạch thường thấy trầm huyền và sáp.
Đại hoàng miết trùng hoàn, với Đại hoang, Đào nhân nhuận huyết tả ứ; Can tất toả đi rất nhanh, phá ứ trừ tê; Mang trùng, Thuỷ điệt, Tề tào, miết trùng là những vị thuốc gốc động vật thực sự có tác dụng hoạt huyết thông kinh lạc; Thược dược, Địa hoàng có tác dụng bổ ích âm của can thận, và có ư nghĩa tăng huyết và hành ứ; Hoàng cầm, Hạnh nhân thanh phế nhiệt, lợi phế khí, trừ khứ nhiệt th́ huyết, khí điều hoà th́ huyết không đ́nh trệ không khô, Cam thảo kiện tỳ, điều hoà chư dược để hoăn cấp.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Trực giải]: Trong tiết này chỉ đơn thuần tŕnh bày về chứng huyết khô. Chính khí con người đều có thể bị tổn thương do các nguyên nhân như thất t́nh (cảm xúc), hoặc do ẩm thực, hoặc pḥng lao (sắc dục quá độ), nội thương chính khí khiến huyết mạch ngưng trệ tích tụ , máu khô tích tụ bên trong mà bên ngoài h́nh thể gầy yếu. Huyết ứ tích nên không thể nuôi dưỡng da thịt, khiến da thịt khô cứng như loài giáp xác, không thể nuôi dưỡng mắt nên hai mắt đen sẫm. Dùng Đại hoàng miết giáp hoàn để trừ máu khô, khi trừ khứ được huyết khô th́ tà được trừ, chính được vượng, và cũng gọi là hoăn trung bổ hư, Không có phương Đại hoàng miết giáp th́ cũng không thể hoăn (thư giăn) trung bổ hư.
[Bệnh án]
Họ Thạch, nữ, 19 tuổi. Bệnh nhân hành kinh lần đầu lúc 16 tuổi, năm 18 tuổi tháng đầu lượng kinh ít, sau đó th́ bế kinh, cơ thể ngày càng gầy, sắc mặt trắng bệch, ăn uống giảm, tinh thần suy nhược, huyễn vựng hồi hộp, các thày thuốc luận theo khí huyết hư nhược thường xuyên cho uống Bát trân, thang Quy tỳ, có người chẩn là hư hàn và cho uống thang Ôn kinh, uống như thế trong một thời gian, vẫn không hành kinh và thân thể ngày càng tệ, bụng dưới co thắt không thoải mái. Mạch tượng sáp, giữa lưỡi có ban màu tím. Bệnh lâu ngày khí huyết bị tổn hại, điều trị nên bổ khí dưỡng huyết. Nhưng kinh nguyệt không hành, ứ huyết gây trở ngại bên trong, nên không sinh huyết mới, v́ thế phép điều trị phải thông ứ phá ứ. Điều trị phỏng theo Đại hoàng Miết giáp hoàn, công bổ kiêm trị, thuốc thang và thuốc hoàn cùng sử dụng, uống lâu dài có thể đạt được mục đích là khôi phục khí huyết, kinh nguyệt thông hành không đ́nh bế.
Xử phương: Đương quy, Đảng sâm, Bạch truật, Thục địa mỗi vị 10g, Đào nhân, Miết trùng, Hồng hoa mỗi vị 6g, Cam thảo 4g, Đại táo 5 quả, Xuyên khung 6g, mỗi ngày uống 1 thang, Đại hoàng miết giáp hoàn mỗi lần uống 4g, ngày uống 3 lần, phương trên gia giảm sắc uống 2 tháng, cơ thể khoẻ mạnh, sắc mặt dần hồng nhuận, kinh hành 1 lần lượng kinh ít. Cho thấy phương trên thu được hiệu quả rơ rệt, lại uống thêm 1 tháng th́ kinh nguyệt b́nh thường, hoàn toàn khỏi bệnh.
[Phụ phương]
[Thiên Kim Dực] Thang chích Cam thảo c̣n gọi là thang Phục mạch Trị hư lao bất túc, xuất mồ hôi mà khó chịu, mạch kết hồi hộp, hành động b́nh thường, không quá 100 ngày, nếu nguy cấp th́ 11 ngày th́ chết.
Cam thảo 4 lạng, chích Quế chi Sinh khương mỗi vị 3 lạng, Mạch môn ½ thăng Ma nhân ½ thăng Nhân sâm A giao mỗi vị 2 lạng Đại táo 30 quả Sinh địa hoàng 1 cân
9 vị thuốc trên, dùng 7 thăng rượu, 8 thăng nước, sắc 8 vị lấy 3 thăng, bỏ bă, cho A giao vào đợi tan hết, uống ấm 1 thang, ngày uống 3 lần.
{Giải thích}
Phương này tŕnh bày & phân tích biện chứng luận trị chứng khí huyết lưỡng hư mạch kết tâm quư (hồi hộp). Tỳ vị hư nhược, khí huyết lưỡng hư, huyết mạch không dưỡng tâm, tâm hư yếu nên huyết vận hành không thông sướng, v́ thế xuất hiện mạch kết đại và tâm động quư (tim đập sợ hăi), huyết mạch hư táo, không thể nhu dưỡng, v́ thế mất ngủ đạo hăn, miệng họng khô khan, thân thể gầy yếu, đại tiện phân khô. Tâm huyết không đầy đủ, khí huyết không thông sướng, nên tức ngực khó chịu.
Điều trị dùng thang Chích Cam thảo, có tác dụng bổ âm huyết, thông dương khí. Trong phương có chích Cam thảo ích khí bổ trung, tác dụng chủ yếu là điều hoà trung tiêu, sinh hoá khí huyết, và là vị thuốc phục mạch căn bản, Nhân sâm, Đại táo bổ khí ích vị, tạo nguồn sinh hoá cho khí huyết; Quế chi phối Cám thảo để thông tâm dương, Sinh khương phối Bạch tửu có tác dụng thông huyết mạch; Sinh địa, A giao, Mạch đông, Ma nhân bổ tâm huyết, dưỡng tâm âm, sung dưỡng huyết mạch. Thang Chích Cam thảo lưỡng bổ âm huyết dương khí, khiến tâm khí hồi phục mà thông tâm dương, tâm huyết đầy đủ để huyết mạch sung túc, v́ thế mọi chứng tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]: Đây là phương thang có tác dụng nhuận táo phục mạch thần hiệu của chứng hư lao, là người hư yếu và làm việc quá sức, để cho âm dương không đến mức ngăn cách, th́ vinh vệ phải có thứ tự, có như thế nguyên khí hoặc có thể dần hồi phục. Nếu xuất hăn do vinh vệ mạnh, là không v́ xuất hăn mà sảng khoái, mà trái lại là phiền muộn, đó là âm dương không hoà hợp. Mạch, cái gọi là ước thúc doanh khí, không để tán loạn chính là mạch, là nói về sức mạnh của vận hành, nay mạch kết là doanh khí không vận hành, hồi hộp là huyết khuy hư, và tâm không được nuôi dưỡng, vinh khí đă đ́nh trệ, và càng xuất hăn th́ sao không lập tức khô khan, v́ tuy nội ngoại tạng phủ chưa tuyệt và hành động như b́nh thường, vẫn đoán rằng không quá trăm ngày, th́ âm vong và dương cũng tự tuyệt (hết). Nếu bệnh nguy cấp th́ tâm tuyệt trước, nên sẽ chết vào ngày thứ 11. Gọi là tâm “huyền tuyệt” (悬绝) là một loại chân tạng mạch của tâm, là mạch chết, bn sẽ chết trong ṿng 9 ngày, lại gia sinh số của hoả, mà thuỷ lại không kế tiếp được, nên không thể không chết. V́ thế vị ngọt vận hành ở phần dương của cơ thể, Khương Táo ở phần dương bên trong, mà các loại dược vật nhuận dưỡng như Sâm, Giao, Ma, Mạch, Sinh địa để tư bổ t́nh trạng khô táo của ngũ tạng, khiến được khôi phục vận hành trong doanh phận, th́ mạch tự khôi phục. Tên gọi là thang Chích Cam thảo, thổ là mẹ của vạn vật, v́ thế vị Sinh địa chủ tạng tâm, Mạch đông chủ phế, A giao chủ can thận, Ma nhân chủ Can, Nhân sâm chủ nguyên khí, lại dùng chích Cam thảo là tổng chủ tŕ điều hoà trung tiêu. Người đời sau thích dùng Giao, Mạch, mà ngại dùng Khương, Quế, không biết rằng hàn ngưng khí táo, không có dương th́ làm sao hoá giải.
{Trửu Hậu} [Thát can tán] Trị lănh lao, lại chủ quỷ chú nhất môn tương nhiễm.
Thát can (gan rái cá) 1 bộ, sấy khô tán bột, uống 1 th́a (phương thốn chuỷ) với nước, ngày 3 lần.
[Từ giải]
Lănh lao: Chỉ hội chứng hư lao có tính hàn.
Quỷ chú: Chỉ về tính truyền nhiễm của bệnh lao.
{Giải Thích}
Phương dược này chỉ xuất hội chứng và trị pháp của lao sát hư lao. Lao trùng truyền nhiễm vào cơ thể làm háo kiệt dương khí, tổn thương âm huyết. Dương khí hư nhược nên bệnh nhân ăn ít, mệt mỏi yếu sức. Âm huyết bị hư tổn nên bệnh nhân triều nhiệt (sốt vào khoảng giờ thân), Ở người nữ th́ huyết khô bế kinh. Tân dịch không nhuận (ướt), v́ thế tiếng nói khàn.
Phương này dùng 1 bộ gan rái cá, sấy khô tán thành bột để uống. Gan rái cá tính ấm, ôn dương hoá âm, có thể sát trùng và trị chứng lănh lao.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú]: Chứng lao không thể không nóng nhiệt, mà nếu chỉ nói đến lạnh, th́ khí âm hàn và bệnh tà là cùng loại, bệnh tà cùng hàn xâm nhập đả kích hồn khí, khiến Thiếu dương không c̣n quyền lực, sức sống tận tuyệt nên không thể không chết. Lại thêm tà khí dựa vào chính khí mà gây bệnh, sức thuốc không dễ tiếp cận v́ thế khó khỏi bệnh. Rái cá là thú vật thuộc âm, gan của Rái cá tăng giảm theo con trăng, là tinh khí của Thái âm, can và tỳ là cùng loại, v́ thế có thể trị lănh lao, bệnh tà sẽ chuyển hoá khi gặp chính khí. Thịt rái cá tính lạnh, chỉ duy nhất gan của rái cá có tính ôn, v́ thế rất thích hợp với chứng lănh lao, lại chủ yếu bị ảnh hưởng bởi mê tín, nói chung đều thuộc âm tà, v́ thế cần được chuyển hoá bằng dương thôi.
Lời kết
Thiên này bàn về hai loại bệnh là huyết và hư lao, bệnh do khí huyết hư tổn gây ra. Bệnh huyết tí là do doanh vệ không đầy đủ, cảm thụ phong tà, huyết vận hành sáp trệ mà thành bệnh, Chứng trạng chủ yếu là cục bộ cơ thể tê dại. Có thể dùng liệu pháp châm thích và thang Hoàng kỳ ngũ vật, thông dương hành tê để điều trị bệnh.
Bệnh hư lao là do các nguyên nhân như khí huyết âm dương hư tổn, chính khí không đầy đủ và âm dương mất điều hoà gây bệnh. Đến như tính chất của hư lao th́ có thể phân thành 3 loại: 1/ Nguyên dương suy bại, phần lớn thiên về hàn chứng.
2/ Nếu hư dương thượng phù, phần lớn thiên về nhiệt chứng,
3/ Khí huyết không thể nhu dưỡng ngũ tạng, th́ thường thấy hội chứng ngũ tạng bất túc. Nguyên tắc điều trị bệnh hư lao là: Nếu âm hư th́ dưỡng âm để phối dương, dương hư th́ trợ dương để phối âm, huyết hư th́ bổ huyết, khí hư th́ bổ khí; Nếu huyết khô mà thành lao, bên ngoài gầy yếu mà bên trong có thực (chứng) Dùng thang Đại hoàng Miết trùng hoàn hoăn trung giảm đau, bổ hư hoạt ứ; Nếu khí huyết lưỡng hư, trung khí không thiết lập, âm dương bất hoà, điều dưỡng khó khăn, có thể dùng thang Tiểu kiến trung, bổ khí của tỳ vị, hoá sinh huyết dịch, mà hoăn cấp giảm đau, điều hoà âm dương; Nếu âm dương lưỡng hư, mà tâm thận bất giao, th́ dùng thang Quế chi gia Long cốt Mẫu lệ điều tiết âm dương, thu liễm tinh khí. Ngoài ra c̣n có Thiên hùng tán để bổ dương; Thang Toan Táo nhân để bổ huyết; Bát vị thận khí hoàn để lưỡng bổ âm dương; Thự dự hoàn để cùng chiếu cố cả chính và tà; Thang Hoàng kỳ kiến trung để điều trị chứng hư lao lư cấp; Thang Chích Cam thảo điều trị chứng tâm quư (hồi hộp) mạch kết; Thát can tán trị chứng lănh lao… Nghiên cứu mục đích trị liệu, đều chính là “Hậu thiên chi trị bản huyết khí, tiên thiên chi trị pháp âm dương” (后天之治本血气,先天之治法阴阳)Điều trị hậu thiên căn bản là khí huyết, trị pháp của tiên thiên là âm dương mà thôi.
Trường Xuân Nguyễn Nghị |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:17:12 | 07 PHẾ NUY PHẾ UNG
Chương 7
Phế nuy phế ung khái thấu thượng khí bệnh mạch chứng trị
Khái thuyết
Thiên này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng phế nuy, phế ung và khái thấu thượng khí (ho suyễn), trong thiên tổng cộng có 15 điều văn, có 15 phương dược và 5 phương phụ. Từ điều thứ nhất đến điều thứ 4 là tổng luận của toàn thiên, tŕnh bày chuyên sâu về nguyên nhân, biến hoá bệnh lư, mạch chứng, nguyên tắc điều trị và kết cục của chứng phế nuy, phế ung và khái nghịch thượng khí (ho suyễn). Điều thứ 5 và điều thứ 10 chuyên luận về mạch chứng trị pháp của phế nuy, từ điều 6 đến điều thứ 9 chuyên luận về mạch chứng và trị pháp của khái nghịch thượng khí (ho suyễn), hai điều 13 và 14 tŕnh bày và phân tích hội chứng và trị pháp của bệnh phế trướng, ba điều 11, 12 và 15 luận về mạch chứng và trị pháp của phế ung. V́ 3 loại bệnh chứng này đều có liên quan đến bệnh của tạng phế, v́ thế nên hợp chung trong cùng một thiên để thảo luận.
Chứng phế nuy chính là bệnh biến phế diệp khô héo do khí và tân dịch của phế không đầy đủ, nhưng có phân ra hàn nhiệt, phế nuy có tính nhiệt là phế nhiệt khí khô, tân dịch bị tổn thương không phân bố mà thành chứng phế nuy; Phế nuy hàn tính chính là phế hàn tân dịch ngưng tụ, khí không phân bố tân dịch mà thành chứng phế nuy. Biểu hiện hội chứng chủ yếu của phế nuy là ho, ho nôn ra bọt dăi.
Phế ung, là do hoả tà, tổn thương huyết của phế mà thành ung nhọt, phần lớn thuộc thực chứng. Mà hội chứng chủ yếu thường gồm ho, đau ngực, nôn ra dịch mủ và đàm trọc.
Khái thấu thượng khí, tức là chứng ho khí suyễn, cũng phân thành hư chứng và thực chứng. Phế trướng là ẩm tà (đặc hơn nước th́ gọi là ẩm) lấp nghẹt trong phế, có các đặc điểm như ho suyễn ngược lên, không thể nằm ngửa, hoặc có âm thanh của đàm.
Ba loại bệnh chứng: Phế nuy, phế ung và ho khí suyễn, đều có quan hệ với phế, nhẹ th́ gây bất lợi cho phế mà phát sinh ho, nặng th́ từ khí liên luỵ đế huyết mà phát sinh đau ngực, ho thổ ra máu.
1.问曰:热在上焦者,因咳为肺痿,肺痿之病,从何得之?师曰,或从汗出,或从呕吐,或从消渴,小便利数,或从便难,又被快药下利,重亡津液,故得之。曰:寸口脉数,其人咳,口中反有浊唾涎沫者何?师曰:为肺痿之病。若 口中辟辟燥,咳即胸中隐隐痛,脉反滑数,此为肺痈,咳唾脓血。脉数虚者为肺痿,数实者为肺痈。
1/Vấn viết: Nhiệt tại thượng tiêu giả, nhân khái vi phế nuy, phế nuy chi bệnh, ṭng hà đắc chi? Sư viết, hoặc ṭng hăn xuất, hoặc ṭng ẩu thổ, hoặc ṭng tiêu khát, tiểu tiện lợi sác, hoặc ṭng tiện nan, hựu bị khoái dược hạ lợi, trọng vong tân dịch, cố đắc chi. Viết: Thốn khẩu mạch sác, kỳ nhân khái, khẩu trung phản hữu trọc thoá diên mạt giả hà? Sư viết: Vi phế nuy chi bệnh. Nhược khẩu trung tích tích táo, khái tắc hung trung ẩn ẩn thống, mạch phản hoạt sác, thử vi phế ung, khái thoá nùng huyết. Mạch sác hư giả vi phế nuy, sác thực giả vi phế ung.
[Từ giải]
Trọc thoá diên mạt (浊唾涎沫): Trọc là đàm đặc, mạt là ẩm lỏng
Tích tích táo (群辟燥) tích là trống không, h́nh dung là trong miệng khô ráo, rất ít tân dịch, và không có đàm.
{Giải thích}
Điều này tŕnh bày & phân tích nguyên nhân, hội chứng và chẩn đoán phân biệt bệnh phế nuy và bệnh phế ung. Nguyên nhân h́nh thành bệnh phế nuy, do xuất quá nhiều mồ hôi, hoặc ẩu thổ liên tục gây tổn thương vị dịch, hoặc do tiêu khát mà tân dịch không được bồi bổ, hoặc tiểu tiện nhiều mà tổn thương tân dịch; Hoặc đại tiện bí kết, táo nhiệt tổn thương tân dịch, hoặc do công hạ quá độ, mà trọng thương tân dịch, nhiều loại như vậy nên không thể kể hết. Tóm lại, tân dịch bị tổn thương th́ dẫn đến âm hư, âm hư nên sinh nhiệt, nhiệt hun nóng phế diệp, phế táo hoả mạnh, nên thốn khẩu mạch sác, nhiệt luyện (nấu) tân dịch thành đàm, nên miệng thổ ra đàm dăi.
Phế ung là do thấp nhiệt hoả độc tích tụ ở phế, nghẽn tắc không thông, thịt rữa nát hoá thành mủ, nên ho thổ ra máu mủ. Nhiệt tà ở phế, tân dịch không phân bố, nên trong miệng khô khan; Nhiệt tràn ngập trong phế, huyết mạch không thuận lợi, nên trong ngực đau âm ỉ.
Bệnh phế nuy chính là do táo nhiệt tổn thương âm, nên xuất hiện mạch hư sác. Bệnh phế ung là do nghẽn tắc đàm nhiệt, nên xuất hiện mạch thực mà có lực.
[Tuyển chú]
[Y tông kim giám]: Lư Văn viết “ Phan Phủ nói: Nuy và ung, đều là do nhiệt ở thượng tiêu, cả hai bệnh mạch đều sác, đều ho, đều mất tân dịch, chưa có điểm khác biệt. Như phế nuy thuộc phế khí hư và mất tân dịch, tuy có nhiệt cũng không mănh liệt, nên không khô cạn, tuy ho nhưng trong miệng có đàm dăi bọt, v́ thế mạch tuy sác nhưng cũng hư; Ung th́ khí che lấp huyết, tà thực mà nhiệt mănh liệt, v́ thế tân dịch càng như khô cạn, trong miệng như khô táo, ho th́ ngực đau âm ỉ, tân dịch khô cạn, mạch nên sáp trệ mà lại hoạt sác, tích tụ nhiệt gây rữa nát thịt tạo thành mủ, nên mạch sác mà thực.
2.问曰:病咳逆,脉之,何以知此为肺痈?当有脓血,吐之则死?其脉何类?师曰:寸口脉微而数,微则为风,数则为热;微则汗出,数则恶寒。风中于卫,呼气不入;热过于荣,吸而不出;风伤皮毛,热伤血脉;风舍于肺,其人则咳,口 干喘满,咽燥不渴,多唾浊沫,时时振寒。热之所过,血为之凝滞,蓄结痈脓, 吐如米粥。始萌可救,脓成则死。
2/ Vấn viết: Bệnh khái nghịch, mạch chi hà dĩ tri thử vi phế ung? Đương hữu nùng huyết, thổ chi tắc tử, kỳ mạch hà loại? Sư viết: thốn khẩu mạch vi nhi sác, vi tắc vi phong, sác tắc vi nhiệt: vi tắc hạn xuất, sác tắc ố hàn. Phong trúng vu vệ, hô khí bất nhập; Nhiệt quá vu dinh, hấp nhi bất xuất. Phong thương b́ mao, nhiệt thương huyết mạch. Phong xá vu phế kỳ nhân tắc khái, khẩu can suyễn măn, yết táo bất khát, đa thóa trọc mạt, thời thời chấn hàn. Nhiệt chi sở quá, huyết vi chi (v́ đó) ngưng trệ, súc kết ung nùng, thổ như mễ chúc. Thủy manh khả cứu, nùng thành tắc tử.
[Từ giải]
Mạch vi (脉微): Ấn mạnh (trầm thủ) mạch bé không rơ rệt, có ư nói về mạch phù.
Quá (过): Trải qua.
Trọc mạt (浊沫): viết tắt của “Trọc thoá diên mạt” (浊唾涎沫).
Chấn hàn (振寒): Ớn lạnh mà thân thể chấn động.
Thuỷ manh khả cứu (始萌可救): bệnh tà khi mới phát sinh th́ có thể cứu văn.
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày và phân tích nguyên nhân và biến hoá bệnh lư của bệnh phế ung. Quá tŕnh h́nh thành bệnh phế ung có thể phân thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1, Phong nhiệt bắt đầu gây tổn thương ở vệ phận; Giai đoạn 2, bệnh tà phong nhiệt, vào ở trong phế, đây là giai đoạn c̣n thuộc phạm vi bệnh tà chưa vào sâu, bệnh nhẹ, chưa h́nh thành bệnh phế ung, dễ điều trị và tiên lượng c̣n tốt; Giai đoạn 3, phong nhiệt hoả độc truyền vào doanh phận, nghẽn kết trong phế, bệnh tà đă vào sâu, bệnh nặng và đă thành bệnh phế ung, thành mủ và không dễ điều trị, tiên lượng bệnh khá xấu.
Thốn khẩu mạch vi mà sác, vi là chỉ về trầm thủ (ấn mạnh tay th́ mạch vô lực), là h́nh tượng của mạch phù, là phong trúng vào vệ phận; Mạch sác là nhiệt, chủ nhiệt ở bên trong, Vi là phong, tính của phong sơ tiết nên xuất hăn, sác là nhiệt, bên trong nhiệt mà bên ngoài phong khiến phản ố hàn (bên trong nóng nên có cảm giác bên ngoài lạnh). Phong gây tổn thương ở vệ phận, khí được phong mà phù, nên hấp khí không vào, v́ thế nên thở ra dễ mà hít vào khó khăn; Nhiệt vào vinh phận, huyết gặp nhiệt thành nghẽn tắc, khí cũng v́ thế mà không giăn ra, nên hấp khí vào mà không xuất ra, chứng phong tồn thương da lông tuy nông, mà nhiệt tổn thương huyết mạch th́ sâu. Phong tà theo vệ phận xâm nhập vinh phận, và ở trong phế, kết lại không tan, khiến phế khí không thuận lợi mà phát ho. Phế nhiệt nghẽn tắc, nên miệng khô phát suyễn và tức ngực; V́ nhiệt trong máu, nên cổ họng khô mà không khát; Nhiệt tà bức bách tân dịch không phân bố, nên khạc nhiều đàm bọt, nhiệt thịnh bên trong nên cơ thể luôn luôn ớn lạnh và chấn động, khi nhiệt đi qua th́ huyết bị ngưng trệ, súc kết trong phế diệp mà thành ung nhọt có mủ, v́ thế bệnh nhân thổ ra mủ giống như nước cháo.
[Tuyển chú]
[Y Môn Pháp Luật]: “Ban sơ phong xâm nhập vệ phận, c̣n tuỳ theo hơi thở mà xuất ra, không thể vào sâu, bị tổn thương không vượt quá da lông, da lông tương hợp với phế, do kết hợp này, nên phong dần dần ngưng tụ ở phế du, gây ho khạc chấn hàn (run rẩy), lúc này từ ngoài xâm nhập vào trong, và xuất ra ngoài cũng c̣n dễ dàng; Nếu nhiệt truyền vào doanh, tức là theo hấp khí (hít vào) vào sâu không ra và gây tổn thương huyết mạch. Phong trong vệ phận và nhiệt trong doanh phận, đều không muốn rời bỏ, mà nén chặt trong phế diệp, khiến huyết bị ngưng trệ và dần dần kết thành mủ, là độc vật hư thối hữu h́nh cần phải khu trừ bằng phương pháp tả phế, nếu chất độc đi xuống xâm nhập vào dạ dày, bụng hay ruột th́ nên tiếp tục khu trừ không để lưu lại, không cứu ngay từ lúc manh nha (bắt đầu) bệnh, để đến khi thành mủ th́ phế đă bị hư nát rồi.
上气,面浮肿,肩息,其脉浮大,不治;又加利,尤甚。
3/ Thượng khí, diện phù thũng, kiên tức, kỳ mạch phù đại, bất trị; Hựu gia lợi, vưu thậm.
[Từ giải]
Thượng khí: Khí suyễn.
Kiên tức: Kh thở vai dao động, chứng trạng khi khó thở.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày và giải thích hội chứng suyễn của chính hư khí thoát. Suyễn kèm theo phù mặt, vai đao động khi hô hấp, là khí thăng mà không giáng. Xuất hiện mạch phù đại vô căn, phản ảnh là do thận không nạp khí, là gốc nguyên dương đă biến đổi, v́ thế bệnh này không thể điều trị. Lại thêm hạ lợi tiết tả là dương thoát ở trên, âm thoát ở dưới, là hiện tượng âm dương li quyết, bệnh t́nh cực kỳ nghiêm trọng.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú Bổ Chính]: Đoạn văn luận về chứng suyễn (thượng khí), không phải là chứng phế ung. Theo thày th́ chứng phế nuy và phế ung không thể không có chứng suyễn, mà cũng có trường hợp chỉ thấy bệnh suyễn và không đi kèm phế nuy và phế ung. Tóm lại, suyễn kèm theo phù thũng, hô hấp dao kiên (vai dao động khi thở), mạch phù đại, không những không khống chế được phế mà c̣n kèm theo thận khí thoát, và cũng là chứng không thể điều trị, lại thêm hạ lợi tiết tả là tỳ và thận đều suy thoát, bệnh cực kỳ nghiêm trọng. Từ đó cũng cho thấy sự khác biệt giữa chứng suyễn và chứng phế nuy, phế ung.
4.上气,喘而躁者,属肺胀,欲作风水,发汗则愈。
4/ Thượng khí, suyễn nhi táo giả, thuộc phế trướng, dục tác phong thuỷ, phát hăn tắc dũ.
{Giải thích}
Đoạn văn tŕnh bày và phân tích chứng suyễn của ngoại hàn nội ẩm. Do ngoại hàn thắt bó bên ngoài, phế không tuyên giáng (công năng thăng giáng xuất nhập), thuỷ ẩm đ́nh trệ ở trong, phế khí nghẽn bế, khí cơ không thuận lợi, nên phế khí trướng đầy, ngược lên gây suyễn, khó chịu bất an. Chứng này phế khí tắc nghẽn, không thông điều thuỷ đạo, thuỷ thấp tràn vào da thịt, có thể thành chứng phong thuỷ thũng. Nguyên nhân bệnh phế trướng là do phong hàn ngoại thúc (bó buộc ở ngoài), thuỷ ẩm tích tụ bên trong, nếu dùng phương pháp phát hăn tán phong hàn khiến phế khí thông sướng, túc giáng phù hợp, thuỷ ẩm có thể giải trừ, và chư chứng tự giảm.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú Bổ Chính]: Chứng suyễn mà vật vă, tính của thuỷ nhuận hạ (ẩm ướt và giáng xuống), tính của phong là thượng hành (đi lên trên), nước được gíó thúc đẩy, khí tụ tập trong phế, cái gọi là kích thích để vận hành, có thể như ở trên núi. V́ thế nên viết muốn tác phong thuỷ. Phát hăn để khứ phong, khiến thuỷ khôi phục tính nhuận hạ mà khỏi bệnh.
肺痿吐涎沫而不咳者,其人不渴,必遗尿、小便数。所以然者,以上虚 不能制下故也。此为肺中冷,必眩、多涎唾,甘草干姜汤以温之。若服汤已渴者, 属消渴。
5/ Phế nuy thổ diên mạt nhi bất khái giả, kỳ nhân bất khát, tất di niệu, tiểu tiện sác. Sở dĩ nhiên giả, dĩ thượng hư bất năng chế hạ cố dă. Thử vi phế trung lănh, tất huyễn, đa diên thoá, Cam thảo can khương thang dĩ ôn chi. Nhược phục thang dĩ khát giả, thuộc tiêu khát.
[Cam thảo Can khương thang]
Cam thảo 4 lạng, cứu Can khương 2 lạng, pháo
Thái nhỏ, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n 1 thăng 5 hợp, bỏ bă, phân 2 lần uống.
[Từ giải]
Bất năng chế hạ; Phế khí không thể chế ước hạ tiêu.
Phục thang dĩ: Dĩ, đương hoàn liễu giảng.Là đă uống hết.
{Giải thích}
Đoạn văn này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng phế nuy loại h́nh hư hàn. Phế nuy hư hàn, nguyên nhân do thượng tiêu dương hư, phế hàn lănh, khí hư không thể thúc đẩy phân bố tân dịch vào các kinh lạc, v́ thế thường thổ ra bọt. Bệnh nhân không ho không khát, nên tiểu són, mà c̣n thường xuyên tiểu tiện, đây chính là đặc điểm của hội chứng thượng hư không thể nhiếp hạ (giữ dưới). V́ dương khí ở thượng tiêu không đầy đủ, tất sẽ xuất hiện chứng đầu vựng.
Điều trị dùng thang Cam thảo Can khương ôn phế khí, vận hành tân dịch, chế ước âm thuỷ của hạ tiêu. Trong phương dùng Cam thảo, Can khương cay ngọt hoá dương (Tân cam hoá dương) để ôn phế hàn. Ôn th́ nhuận, có thể vận hành tân dịch mà tạo thuận lợi cho dương khí, khí thuận lợi th́ tân dịch lưu thông, nên phế được nuôi dưỡng mà không tê liệt (nuy), Phương dược hàm ư điều lư trung tiêu, chấn chỉnh trung dương, là phương pháp bổ thổ và ấm áp phế kim.
Nếu sau khi uống thang Cam thảo Can khương, mà khát nước, cho thấy chứng này đă thuộc bệnh tiêu khát, th́ nên điều trị theo bệnh tiêu khát, không phải trường hợp này. Điều này cho thấy điều trị bệnh phế nuy hư hàn cần ôn phế ích khí, khi dương khí khôi phục, tân dịch được thúc đẩy phân bố, th́ chứng ho tự khỏi và chứng phế nuy có thể hồi phục.
19
【Tuyển chú】
【Y Tông Kim Giám】 “ Lạnh trong phế nên không khát nước, tiểu tiện són, tiểu nhiều lần, đầu huyễn, tiết nhiều nước bọt. Sở dĩ như vậy là do thượng tiêu dương hư, không thể hạn chế âm thuỷ ở hạ tiêu, thuỷ ở hạ tiêu tràn lên mà tiết nhiều nước bọt, dùng thang Cam thảo can khương là để ôn tán hàn ẩm.
【Bệnh án】
Họ Ninh x x, nữ, 58t Ngày 25//11/1968 đến khám bệnh. Bệnh lao phổi, có tiền sử viêm phế quản đă lâu, thường xuyên sốt nhẹ, đạo hăn, ho, gần 3 năm nay khí suyễn tăng nặng, nhất là vào mùa đông, qua kiểm tra chẩn đoán xác định là phế nguyên tính tâm tạng bệnh. Chứng trạng gồm cơ thể gầy yếu, ho ra đàm trắng, có cảm giác đàm mát lạnh, khi ho th́ tiểu són, ướt cả đồ lót, tức ngực phiền muộn khí suyễn, không thể nằm ngửa, chân tay không ấm áp, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch trầm tế. Chứng thuộc thận dương hư suy, khí hư hạ hăm. Điều trị dùng phép ôn bổ thận dương, ích khí cố biểu.
Xử phương: Thục địa 24g Sơn thù, Sơn dược, Trần b́, Bán hạ mỗi vị 12g, Đan b́, Phục linh đều 9g, Hoàng kỳ 30g, Bạch truật 15g, Quế chi, Phục tử mỗi vị 4.5g.
Sau 3 thang ho suyễn hơi giảm, nhưng ăn uống kém, các chứng c̣n lại giống như cũ, đến xin thày Chu điều trị, thày xem mạch chứng rồi nói “Đây là hội chứng dương ở trung tiêu hư suy, vận hoá kém, thổ không sinh kim nên phế nuy, không có lực túc giáng, không thể thông điều thuỷ đạo nên ho và tiểu són, cơ chế của bệnh là phế hư yếu và lạnh, dương khí không phấn chấn, thượng hư không thể chế ước ở dưới, dùng thang Cam thảo Can khương là thích hợp không nghi ngờ. Dùng Cam thảo, Can khương mỗi vị 30g, sắc dặc uống liên tục. Uống 3 thang, tiểu són và ho đều giảm nhẹ, lại tăng Cam thảo lên 60g, uống 3 thang, chứng trạng cơ bản được khống chế, tiếp theo dùng Kim quỹ thận khí hoàn gia giảm điều trị và khỏi bệnh.
6.咳而上气,喉中水鸡声、射干麻黄汤主之。
6/ Khái nhi thượng khí, hầu trung thuỷ kê thanh, Xạ can Ma hoàng thang chủ chi.
【Phương thang Xạ can Ma hoàng】
Xạ can 13 củ nhất pháp 3 lạng Ma hoàng 4 lạng Siunh khương 4 lạng Tế tân Tử uyển Khoản đông hoa mỗi vị 3 lạng Ngũ vị tử ½ thăng Đại táo 7 quả Bán hạ loại lớn rửa, 8 củ nhất pháp 8 thăng
9 vị thuốc trên, dùng 1 đấu 2 thăng nước, đầu tiên nấu vị Ma hoang sôi trào lên 2 lần, vớt bỏ bọt, cho hết thuốc vào nấu c̣n 4 thăng, chia ba lần uống ấm.
【Từ giải】
Thuỷ kê: Là Điền kê. Thuỷ kê thanh, là h́nh dung như ho suyễn có âm thanh của đàm liên tục không ngừng.
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng ho suyễn hàn ẩm. Cảm thụ phong hàn từ bên ngoài, phế khí bế tắc, thuỷ ẩm phát từ bên trong, đàm gây trở ngại cho khí, khí tiếp xúc với đàm, v́ thế phát sinh ho suyễn, trong cổ họng liên tục có âm thanh như tiếng gà nước.
Điều trị dùng thang Xạ can Ma hoàng tán hàn tuyên phế, khai mở khí đạo bị tê liệt. Trong phương có Ma hoàng Tế tân ôn kinh tán hàn, khai phế hoá ẩm; Khoản đông, Tử uyển ôn phế trị ho; Bán hạ, Sinh khương trừ đàm giáng nghịch; Xạ can khai mở yết hầu khí đạo; Ngũ vị tử vị chua thu liễm phế khí, để giám sát tính phát tán của Ma hoàng, Tế tân, Đại táo an trung phù hư, điều hoà các vị thuốc.
【Tuyển chú】
【Y Môn Pháp Luật】Suyễn và có âm thanh của gà nước, là biểu hiện của đàm gây trở ngại cho khí, cũng là biểu hiện khi khí tiếp xúc với đàm, và là một chứng nghiệm cúa phong hàn nhập phế. Phát tán biểu tà, hạ khí, nhuận táo, khai đàm, 4 phép trong một phương dược, dùng để phân giải bệnh tà, nếu không kết hợp được, th́ đây cũng là phép dụng dược theo nguyên nhân hội chứng.
【Bệnh án】
Họ Vương x x, nữ, 62 tuổi, khám bệnh lần 1 vào ngày 04/5/1979
T́nh trạng bệnh: Ho suyễn sau khi viêm phổi đă hơn 10 năm, ho suyễn một mạch từ mùa đông năm 1978 đến nay chưa dứt. Triệu chứng hen suyễn sau khi bị cảm cuối tháng trước: Hen suyễn nặng, có đờm trong họng, ho nhiều đờm trắng, sợ lạnh, lạnh lưng, miệng b́nh thường, đi ngoài phân lỏng, đại tiện 2 hoặc 3 lần mỗi ngày, rêu lưỡi trắng hơi nhầy, mạch huyền tế. Nghe thấy háo minh âm ở hai bên phổi và thấp la âm (ran ướt) ở phổi trái.
Tham khảo mạch chẩn, đây là chứng ngoại hàn nội ẩm, tà kết hợp gây trở ngại phế. Điều trị dùng trị pháp: Tán hàn hoá ẩm, hoá đàm giáng nghịch, với thang Xạ can Ma hoàng gia giảm: Xạ can, Ma hoàng, Tang b́, Quế chi, Hạnh nhân, chích Thảo, Đông hoa, Bán hạ, Ngũ vị mỗi vị 10g, Can khương 6g.
Kết quả: Uống 3 thang, hết suyễn, ho ra nhiều đàm trăng, phổi trái ngẫu nhiên nghe thấy ran khô, chưa nghe thấy ran ướt, tiếp tục uống 6 thang trên, đến 17/7 chỉ c̣n cảm giác khó chịu ở ngực, thỏ ra một ít đàm trắng.
7.咳逆上气,时时唾浊,但坐不得眠,皂荚丸主之。
7/ Khái nghịch thượng khí, thời thời thoá trọc, đăn toạ bất đắc miên, Tạo giáp hoàn chủ chi.
Phương【Tạo giáp hoàn】
Tạo giáp 8 lạng, bỏ vỏ, dùng tô (bơ) nướng
Một vị trên tán bột làm thành hoàn như hạt ngô đồng lớn, dùng cao táo làm thang uống 3 hoàn, ngày 3, đêm uống 1 lần.
【Từ giải】
Tô (酥) dầu tô, c̣n gọi là Hoàng du (dầu vàng)
【Giải thích】
Đoạn văn này tŕnh bày và phân tích biện chứng luận trị chứng ho suyễn đàm trọc. V́ thượng tiêu nóng nhiệt, chưng nấu tân dịch, h́nh thành niêm đàm (đờm dính), gây trở ngại khí đạo, phế kim không thể túc giáng (thanh sạch, hạ xuống), v́ thế phát sinh ho suyễn, liên tục thổ ra đàm, rất nhiều đàm đục, thổ măi không hết đàm, khi nằm th́ đàm nghịch lên gây trở ngại đường thở là cho hô hấp không thuận lợi, tuy thế nếu ngồi th́ lại không ngủ được.
Đàm của chứng này khá kiên cố và khó loại bỏ, nhưng nếu không nhanh chóng tảo trừ, khiến đàm nghẽn khí bế tắc, sẽ làm người bệnh cực kỳ khó chịu. Điều trị dùng hoàn Tạo giáp, Tạo giáp địch đàm khứ cấu (gột đàm khứ bẩn), tảo trừ đàm trọc, lực thuốc rất mănh liệt; V́ thế khi uống nên dùng cao táo, để cho tỳ vị được bằng an, dùng mật để hoàn thuốc, để hạn chế tính hung hăn của thuốc; Lại có tác dụng sinh tân dịch và nhuận phế. Khiến gột rửa đàm kết mà không tổn thương chính khí, là tôn chỉ của phép chế phương này. Diện mục biện chứng, ở tại 4 chữ “Đăn toạ, thổ trọc” (但坐,吐浊)nhưng ngồi, thổ ra đàm trọc.
【Tuyển chú】
【Kim quỹ Yếu Lược Tâm Điển】Trọc cũng là đàm trọc, thổ ra đàm liên tục, là đàm trong phế, theo thượng khí (suyễn) mà xuất ra, nhưng đàm xuất nhiều mà không giảm, là do đàm cơ bản rất kiên cố không dễ loại bỏ, đàm không giảm mà tảo trừ cũng không hết. Dùng Tạo giáp vị cay nhập phế, có tác dụng trừ đàm cực kỳ mănh liệt, v́ vậy nên uống cùng cao táo để chính khí được bằng an.
咳而脉浮者,厚朴麻黄汤主之。
8/ Khái nhi mạch phù giả, Hậu phác Ma hoàng thang chủ chi.
Phương【Hậu phác Ma hoàng thang】
Hậu phác 5 lạng Ma hoàng 4 lạng Thạch cao to bằng quả trứng gà, Hạnh nhân ½ thăng Bán hạ ½ thăng Can khương 2 lạng Tế tân 2 lạng Tiểu mạch 1 thăng Ngũ vị tử ½ thăng
9 vị thuốc trên, dùng 1 đấu 2 thăng nước, đầu tiên nấu chín Tiểu mạch, bỏ bă, cho các vị thuốc vào nấu c̣n 3 thăng, uống lúc thuốc c̣n ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần.
【Giải thích】
Đoạn văn này dùng mạch đoán chứng, có sự khác biệt giữa ngoại hàn và nội ẩm, v́ thế nên trị pháp cũng không tương đồng. Ho mà mạch phù, phần nhiều là bệnh tà ở biểu, bệnh tà ở khí phận của người bệnh phổi, dùng thang Tiểu thanh long khứ ba vị Quế, Thược, Thảo và gia Hậu phác, Hạnh nhân để lợi phế để điều chỉnh khí, Thạch cao để thanh nhiệt, Tiểu mạch dưỡng tâm hoà vị, để phù trợ chính khí. Phương này là sáng chế của bậc thày y học, cách dụng dược cực kỳ xảo diệu.
【Tuyển chú】
【Y Tông Kim Giám】: “Lư Văn viết: Ho, cũng là thuỷ hàn xâm phạm (xạ) phế; Mạch phù là thuỷ đ́nh trệ lại hiệp phong để cổ vũ. Ma hoàng khứ phong tán phế nghịch, cùng sử dụng với Bán hạ, Tế tân, Can khương, Ngũ vị tử, Thạch cao, tức là thang Tiểu thanh long gia Thạch cao cũng là thang tễ giải biểu hành thuỷ, đúng là thổ có thể chế ước thuỷ, nhưng địa đạo bị nghẽn tắc, khiến thuỷ cũng không thể vận hành, dùng Hậu phác khai thông đôn phụ (cách gọi khác của hành thổ) khiến tỳ khí kiện vận, và thuỷ tự hạ tiết, Hạnh nhân hạ khí khứ nghịch, vị Tiểu mạch nhập tâm kinh và thông hoả khí, với hoả có thể sinh thỗ hỗ trợ tạng tỳ, mà cùng thành công trong việc quyết thuỷ (tháo nước).
脉沉者,泽漆汤主之。
9/ Mạch trầm giả, Trạch tất thang chủ chi.
Phương 【Trạch tất thang】
Bán hạ ½ thăng Tử sâm 5 lạng nhất tác Tử Uyển Trạch tất 3 cân, dùng nước chảy hướng đông nấu c̣n 1 đấu 5 thăng Sinh khương 5 lạng Bạch tiền 5 lạng Cam thảo Hoàng cầm Nhân sâm Quế chi mỗi vị 3 lạng
9 vị trên, thái nhỏ, cho nước Trạch tất vào nấu c̣n 5 thăng, uống thuốc ấm 5 hợp, uống đến đêm cho hết thuốc.
【Giải thích】
Điều văn này kế tiếp điều trên đề cập đến ho và mạch trầm, phần nhiều là bệnh tà trong lư, là thuỷ ẩm ràng buộc ở phế mà không xuất ra ngoài. Điều trị dùng thang Trạch tất trục thuỷ thông dương, trị ho suyễn. Trong phương thang có Trạch tất với tác dụng tiêu đàm mănh liệt; Quế chi thông dương, ôn hoá thuỷ khí; Tử uyển, Bạch tiền ôn phế, trị ho suyễn; Sinh khương, Bán hạ kiện vị trừ đàm tán ẩm; Hoàng cầm thanh phế, trừ thuỷ ẩm uất mà sinh nhiệt; Nhân sâm, Cam thảo phù trợ chính khí kiện tỳ, vận hoá thuỷ thấp. Phương này nấu trước vị Trạch tất sau đó gia nhập các vị thuốc, là để trước tiên dùng tác dụng trục thuỷ, và thống lĩnh chư dược để trị ho suyễn.
【Tuyển chú】
【Y Tông Kim Giám】: Lư Văn viết: Mạch trầm là thuỷ, với vị Trạch tất vi quân, v́ có công dụng chuyên tiêu đàm hành thuỷ, tính của thuỷ âm hàn, Quế chi vận hành dương khí để dẫn đường. Cho dù thuỷ bị đ́nh trệ, tỳ thổ suy không thể chế thuỷ, phế khí nghịch không thể thông điều thuỷ đạo, v́ thế dùng Nhân sâm, Tử sâm, Bạch tiền, Cam thảo bổ tỳ phế, cùng là phương chế thuỷ và lợi thuỷ. Hoàng cầm vị đắng tiết nhiệt, Bán hạ, Sinh khương vị cay nên tán hàn.
10.大逆上气,咽喉不利,止逆下气者,麦门冬汤主之。
10/ Đại nghịch thượng khí, yết hầu bất lợi, chỉ nghịch hạ khí giả, mạch môn đông thang chủ chi.
Phương【Mạch môn đông thang】
Mạch môn đông 7 thăng Bán hạ 1 thăng Nhân sâm Cam thảo đều 2 lạng, Cánh mễ 3 hợp Đại táo 12 quả.
6 vị thuốc trên, dùng 1 đấu 2 thăng nước, nấu c̣n 6 thăng, uống thuốc lúc ấm 1 thăng, ngày 3 lần, đêm 1 lần.
【Từ giải】
Đại nghịch (大逆)đại là hoả. “Hoả” là tân dịch hư hoả viêm, tuy ho mà không có đàm dăi.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày & phân tích hội chứng và trị pháp của bệnh ho suyễn hư hoả thượng viêm. Tân dịch ở phế vị bị tổn háo, nên bên trong nhiều táo hoả, hư hoả bốc lên, phế bị khô nóng không thể tư nhuận (bồi bổ ẩm ướt), v́ thế phát sinh các chứng như ho suyễn, mạch hư sác. Âm dịch quá ít, nên cổ họng bị khô, cổ họng bị ngứa và không thoải mái, hoặc trong họng như có vật gây trở ngại, miệng khô muốn uống nước, chất lưỡi hồng sáng, ít rêu lưỡi.
Điều trị dùng thang Mạch môn đông, thanh nhiệt phế vị, trị nghịch hạ khí. Trong phương trọng dụng Mạch môn đông, bồi bổ âm dịch cho phế vị, thanh giáng hư hoả ở phế vị, lượng dùng của Bán hạ rất ít, chỉ bằng 1/7 của vị Mạch môn, có tác dụng giáng nghịch, khai mở kết tụ, và khai thông con đường lưu hành của tân dịch; Dùng Nhân sâm, Cánh mễ, Cam thảo, Đại táo ích khí dưỡng vị, sinh tân dịch nhuận khô táo. Khi tỳ vị vận chuyển mạnh mẽ, tân dịch sung túc được đưa lên phế, th́ hư hoả sẽ tự liễm, các chứng như ho suyễn có thể theo đó mà tiêu giải. Điều này so sánh với thang Trạch tất trị ho suyễn do thuỷ ẩm ngưng kết, mà có phân thành chứng thuỷ khái và hoả nghịch, và đồng thời tŕnh bày ở đoạn dưới chứng thực suyễn của bệnh phế ung, nhưng lại khác biệt, so sánh văn pháp trước và sau, độc giả nên lưu ư.
【Tuyển chú】
[Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa]: Hoả nghịch thượng khí, nhiệt khí cũng bốc lên khiến cổ họng không thoải mái, phế táo tân dịch khô khan. Dùng chủ dược Mạch môn sinh tân dịch nhuận táo, tá dược là Bán hạ có tác dụng khai mở kết tụ, Nhân sâm, Cam thảo, Cánh mễ, Đại táo được dùng để bồi bổ vị thổ và hỗ trợ phế kim, đây chính là trị pháp được thiết lập để trị chứng phế hư nhiệt ít tân dịch, và cũng là phương dự pḥng của chứng phế nuy loại h́nh hư nhiệt.
【Bệnh án】
Họ Lư x x, nữ, 75t, khám bệnh ngày 22/01/1981.
Tuổi cao gầy yếu, tố chất không chịu được phong hàn, không làm việc nặng, ngoại cảm nhẹ cũng dễ dàng phát sốt và ho, chỉ hơi mệt mỏi là suyễn súc khó thở. Nửa tháng trước do ngoại cảm nên phát sốt và ho, không được điều trị kịp thời, dây dưa kéo dài, đến nay tuy ngoài tà tự giải nhưng miệng họng khô khan, suyễn súc, ho liên tục, thổ ra một lượng lớn bọt dăi màu trắng, sắc mặt vàng vọt, ăn uống kém, miệng nhạt không biết mùi vị, tinh thần mệt nhọc, nằm trên giường không dậy. Mạch hư hoăn, chất lưỡi hồng nhạt, ít rêu. Đây là chứng phế nuy, khí âm lưỡng thương. Điều trị dùng thang Mạch môn đông{Kim Quỹ} để bồi thổ sinh kim, và giáng xung nghịch.
Xử phương: Mạch đông 12g Đảng sâm 12g chế Bán hạ 6g Chích Cam thảo 10g Đại táo 7 quả Phục linh 10g Cánh mễ 1 nắm (tự gia thêm)
25/01 tái khám: Sau khi uống 3 thang, ăn uống tốt hơn, miệng khô, ho và tinh thần có chuyển biến tốt, đă có thể dậy giường hoạt động. Tuy nhiên sắc mặt vàng úa, mạch hoăn, bộ quan bên phải hư đại, rêu lưỡi mỏng và hơi khô. Tỳ khí hư nhiều, vị âm tổn thương, tái sử dụng phương trên gia Sơn dược 12g, chích Hoàng kỳ 10g, sau khi uống 7 thang, tất cả mọi chứng đều hết và đă có thể làm việc nhà.
肺痈,喘不得卧,葶苈大枣泻肺汤主之。
11/ Phế ung, suyễn nhi bất đắc ngoạ, Đ́nh lịch đại táo tả phế thang chủ chi.
Phương 【Đ́nh lịch đại táo tả phế thang】
Đ́nh lịch nấu cao thành màu vàng, giă thành những viên bi lớn Đại táo 12 quả, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n 2 thăng, khứ táo cho Đ́nh lịch vào, nấu c̣n 1 thăng, uống hết.
【Từ giải】
Ngao: dùng như sao (rang)
【Giải thích】
Bài viết này thảo luận về biện chứng luận trị bệnh phế ung khi tà khí bị nghẽn tắc trong phổi và chứng phế ung chưa h́nh thành nhưng bắt đầu phát triển. Do bệnh phổi khởi phát, bệnh độc, phong nhiệt làm nước bọt dăi đặc, ứ đọng trong phổi, cản trở khí cơ, gây ho suyễn không thể nằm ngửa, bệnh nặng có thể đau âm ỉ ở ngực.
Điều trị bằng thang Đ́nh lịch Đại táo tả phế, lợi dụng lúc bệnh mới khởi phát để có thể nhanh chóng tiêu trừ bệnh. Trong phương thuốc có Đ́nh lịch đắng lạnh hoạt lợi, tiết nhiệt tiêu đàm tả thuỷ; tá dược là Đại táo vị ngọt điều hoà dược lực, có tác dụng an vị bổ tỳ, có tác dụng bổ chính khí sinh tân dịch và điều hoà dược tính.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú】” Phong trúng vệ phận, huyết khí nghẽn tắc nghịch lên, thở ra không thể hít vào, suyễn không nằm được, bệnh kéo dài lâu ngày, tất phế diệp thối rữa, thổ ra mủ mà chết, v́ vậy dùng Đ́nh lịch nhanh chóng trị chứng nghẽn tắc thực chứng ở phổi, khiến khí huyết thuận lợi, không rữa nát thổ ra mủ, với vị Đại táo củng cố căn bản của tỳ vị, phương này tuy có tác dụng mạnh mẽ, nhưng không gây trở ngại khi sử dụng.
12.咳而胸满,振寒,脉数,咽干不渴,时出唾腥臭,久久吐脓如米粥者,为肺病,桔梗汤主之。
12/ Khái nhi hung măn, chấn hàn, mạch sác, yết can bất khát, thời xuất thoá tanh xú, cửu cửu thổ nùng như mễ chúc giả, vi phế bệnh, Cát cánh thang chủ chi.
【Thang Cát cánh】Phương này cũng trị chứng huyết tí
Cát cánh 1 lạng Cam thảo 2 lạng
2 vị trên, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n 1 thăng, phân 2 lần uống, cũng thổ ra máu mủ.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp bệnh phế ung đă thành mủ. Do bệnh phế ung lâu ngày, huyết thối rữa thành mủ, v́ thế có khi nôn ra nước đặc tanh hôi, hoặc lâu lâu thổ ra mủ như nước cháo, nên gọi là chứng phế ung, Nhiệt độc uất ở trong, khiến b́ biểu không kiên cố, v́ thế mạch sác mà rét run. Thấp nhiệt uất ở phế lạc, phế khí không thuận lợi nên ho và tức ngực, độc nhiệt nghẽn tắc huyết phận của phế nên họng khô mà không khát.
Điều trị dùng thang Cát cánh, là chủ dược của bệnh phế ung, bệnh này là phong nhiệt nghẽn tắc, nên dùng Cát cánh mở kết tụ trừ mủ, nhiệt tụ lại thành độc nên dùng Cam thảo thanh nhiệt giải độc. Lượng Cam thảo nhiều gấp đôi Cát cánh, dược lực tựa hồ rất cao, đúng là phép điều trị chứng ung nhọt đă thành mủ, chính khí bị tổn thương mà nhọt độc đă vỡ.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú】Là đă thành chứng phế ung, gọi là nhiệt đă vào vinh phận, vào mà không xuất ra, tà nhiệt kết tụ ở vinh phận của phế, v́ thế với vị Cát cánh vị đắng để hạ nhiệt kết, khai mở và nâng đỡ phế khí, sinh Cam thảo thanh nhiệt giải độc trừ tê, v́ thế lại viết: Tái phục lại thổ ra máu mủ.
【Bệnh án】
Họ Thi x x, nam, 17t
Tiền sử bệnh: Bệnh nhân ghét lạnh phát sốt 1 tuần, ho ngực khó chiu không thoải mái, thổ ra một ít đàm màu trắng dính, kiểm tra: Bạch tế bào 24500/ mm3, trung tính 85%, X quang lồng ngực cho báo cáo phổi bên trái phía dưới phù có mủ, đă trị liệu trong viện 8 ngày, sử dụng một lượng lớn kháng sinh, không hạ sốt, lại muốn điều trị bằng đông y, dùng: Cát cánh 60g, sinh Cam thảo 30g, uống 1 thang, ho kịch liệt, sáng hôm sau bn thổ ra rất nhiều mủ, rất tanh hôi, dùng nguyên phương uống thêm 2 thang, nôn ra rất nhiều đàm mủ, hạ sốt, giảm Cát cánh xuống c̣n 20g, sinh Cam thảo 10g, gia Nam Sa sâm, Ngân hoa, Ngư tinh, sinh Ư nhân, Qua lâu b́, uống đến hơn 10 thang, uống đến khi hết sốt, tinh thần tốt, ẩm thực tăng, kiểm tra ngực đă hết đàm mủ, huyết tượng cũng b́nh thường.
13.咳而上气,此为肺胀,其人喘,目如脱状,脉浮大者,越婢加半夏汤主之。
13/ Khái nhi thượng khí, thử vi phế trướng, kỳ nhân suyễn, mục như thoát trạng, mạch phù đại giả, Việt t́ gia Bán hạ thang chủ chi.
【Việt t́ gia Bán hạ thang】
Ma hoàng 6 lạng Thạch cao ½ cân Sinh khương 3 lạng Đại táo 15 quả Cam thảo 2,5 lạng Bán hạ ½ thăng.
6 vị thuốc trên dùng 6 thăng nước nấu vị Ma hoàng trước, vớt bỏ bọt, cho hết vị thuốc c̣n lại vào, nấu c̣n 3 thăng, phân 3 lần uống lúc thuốc c̣n ấm.
【Từ giải】
Mục như thoát trạng (目如脱状): Giống như muốn rơi mắt ra ngoài.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận về hội chứng và trị pháp chứng nhiệt ẩm “Phế trướng”. Do ngoại cảm phong nhiệt, thuỷ ẩm nội phát, bệnh tà bên trong và bên ngoài hợp lại, nhiệt ẩm bốc lên, lấp đầy trong phế, phế khí đầy trướng, nên ho suyễn, suyễn gấp không thể thở; Suyễn nặng nên hai mắt lồi ra, như muốn rơi ra ngoài, với mạch phù đại là biểu hiện của phong tà nhiệt ẩm rất nhiều ở biểu và lư, mà cũng không giải được.
Điều trị dùng thang Việt t́ gia Bán hạ. Dùng Ma hoàng,
Sinh khương công trục ngoại tà, tuyên giáng phế khí, giải trừ thuỷ khí; Thạch cao trừ nhiệt trong phế để giáng hạ phế khí, Bán hạ giáng nghịch hoá đàm, Đại táo kiện tỳ bổ trung, điều hoà các vị thuốc.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển】: Ngoại tà và nội ẩm lấp đầy trong phế, là trướng, là suyễn, là ho đưa khí lên. Thang Việt tỳ với lực tán bệnh tà mạnh mẽ, mà lực trừ ẩm kém, v́ thế dùng Bán hạ để hỗ trợ những ǵ chưa đạt. Không sử dụng thang Tiểu Thanh long, với mạch phù mà đại là biểu hiện của bệnh dương nhiệt, v́ thế thuận lợi với tân hàn (cay lạnh) mà bất lợi với tân nhiệt (cay nóng). Mắt như muốn rơi ra, con ngươi lồi giống như muốn rơi ra ngoài, là khí tắc nghẽn dẫn đến như vậy.
14.肺胀,咳而上气,烦躁而喘,脉浮者,心下有水,小青龙加石膏汤主之。
14/ Phế trướng, khái nhi thượng khí, phiền táo nhi suyễn, mạch phù giả, tâm hạ hữu thuỷ, tiểu thanh long gia Thạch cao thang chủ chi.
Thang Tiểu thanh long gia Thạch cao 《Thiên kim》hội chứng và trị liệu giống nhau, bên ngoài thêm chứng trạng đau lan tới khuyết bồn
Ma hoàng Thược dược Quế chi Tế tân Cam thảo Can khương mỗi vị 3 lạng Ngũ vị tử Bán hạ mỗi vị ½ thăng.
9 vị thuốc trên, dùng 1 đấu nước, săc vị Ma hoàng trước, vớt bỏ bọt, rồi cho hết thuốc vaofnaasu c̣n 3 thăng, người khoẻ uống 1 thăng, người yếu giảm bớt, ngày uống 3 lần, trẻ em uống 4 hợp.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp bệnh “Phế trướng” của đàm ẩm hiệp nhiệt. Do cảm thụ phong hàn bên ngoài, hàn ẩm phát tác bên trong, bệnh tà trong ngoài hợp lại, uất (ứ đọng) lại sinh nhiệt, v́ thế bệnh nhân ho khí nghịch, bực bội bất an và phát suyễn, mạch phù là biểu hiện chứng này thuộc phong ẩm, khác biệt với chứng phế ung.
Điều trị dùng thang Tiểu thanh long gia gia Thạch cao, giải tán hàn ẩm bên ngoài, trừ phiền nhiệt bên trong, phương này ở giữa thang Việt t́ và thang Đại thanh long, lạnh ấm cùng tiến, không cản trở nhau.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú】Dưới tim có nước, ho khí nghịch, dùng thang tễ Tiểu thanh long, và bực bội là biểu hiện của tà nhiệt, nên gia Thạch cao, tham khảo theo đường lối của Đại thanh long, để hàn nhiệt tịnh tiến, không cản trở nhau. Vị Thạch cao nên dùng sống, tán bột, lượng dùng nên nhiều để có hiệu quả.
【Bệnh án】
Họ Lư x x, nam, 80t, khám bệnh 1973, hen suyễn đă hơn 10 ngày, thân thể lạnh, sợ lạnh, đang là mùa hè, nhưng ông vẫn mặc áo len, không khát, chứng thuộc hàn suyễn, bệnh phát tác vào mùa nắng, là chứng hàn bao nhiệt, dùng nguyên phương thang Tiểu thanh long gia Thạch cao: Ma hoàng 9g Tế tân 2.3g Ngũ vị tử 9g Can khương 3g Bạch thược sao 9g pháp Bán hạ 9g Cam thảo 6g. Uống 3 thang, bệnh giảm nhẹ quá nửa, uống tiếp 3 thang, hen suyễn đă được khống chế.
【Phụ phương】
【Thang Chích Cam thảo】Trị phế nuy, nhiều nước dăi, lợm giọng buồn nôn, phương dược trong thiên hư lao.
【Từ giải】
Tâm tiểu ôn ôn dịch dịch (心小温温液液) :Lợm giọng buồn nôn.
【Giải thích】
Phương này đề xuất biện chứng luận trị chứng phế nuy lương táo (mát và khô), do lương táo gây tổn thương phế, phế hư thiểu khí, không thể phân bố tân dịch ra chung quanh, mà tụ lại thành dăi, nên nhiều bọt dăi, tích tụ ở chiên trung nên lợm giọng buồn nôn;
Điều trị dùng thang Chích Cam thảo, ôn nhuận phế khí, vận hành tân dịch, Trong phương có Nhân sâm, chích Cam thảo, Sinh khương, Đại táo ôn bổ tỳ phế, song bổ khí âm, ôn nhuận phế khí; Quế chi ôn thông dương khí để vận hành tân dịch; Mạch đông, Sinh địa, Ma nhân, A giao tư bổ âm huyết, nhuận phế trừ khô táo.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Tập Chú】Uông Song Tŕ viết: Chứng phế nuy, phế hư khí bại mà phế diệp khô héo, đây là quá khô khan, như lá mùa thu, không do hoả nhiệt, không giống hoàn toàn như bệnh ở phế, tuy có nhiệt và ho ra máu, cũng là quá khô táo của âm hoả, không phải thực hoả, v́ thể Trọng Cảnh trị chứng phế nuy bằng thang dược này và thang Cam thảo can khương. Phế bị khô mà lại nhiều nước miếng là do phế quá khô, không thể tiếp thụ tân dịch, tân dịch chịu ảnh hưởng hơi nóng của vị khí mà hoá thành đàm dăi. Đàm dăi tích tụ ở Chiên trung, tân dịch lại không lưu hành phân bố, v́ thế nên lợm giọng buồn nôn.
《Thiên Kim》【Cam thảo thang】
Cam thảo
1 vị trên, dùng 3 thăng nước, nấu c̣n ½, phân 3 lần uống ấm.
【Giải thích】
Phương dược này dùng điều trị chứng phế nuy khô và mát (lương táo), khi lương táo gây tổn thương ở phế, phế diệp khô héo không thể phân bố tân dịch, tân dịch tích tụ nên nhiều nước miếng. Phế nuy không thể lưu hành phân bố tân dịch, tân dịch hoá thành đàm dăi, tích tụ ở chiên trung, v́ thế bn thường lợm giọng buồn nôn. Điều trị bệnh này chỉ dùng một vị Cam thảo, có tác dụng kiện tỳ tiêu ẩm, sinh tân dịch trừ khô táo, trị hư nhiệt ở phế vị, giải độc và phù trợ chính khí, v́ thế nên được dùng để điều trị bệnh ở tạng phế.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú】Nhiệt của chứng phế nuy là hư nhiệt, nên không thể công kích trực tiếp, v́ thế dùng Cam thảo sống vị ngọt tính lạnh uống liên tục từng chút một, hư nhiệt sẽ dần dần tự hoá.
《Thiên Kim》【Sinh khương Cam thảo thang】Trị chứng phế nuy ho nhổ, dăi bọt không ngừng, họng khô khát.
Sinh khương 5 lạng Nhân sâm 3 lạng Cam thảo 4 lạng Đại táo 50 quả.
4 vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, phân 3 lần uống ấm (hâm ấm thuốc rồi uống)
【Giải thích】
Phương này điều trị chứng tỳ vị trung tiêu hư tổn, khiến cho thuỷ hàn không kiện vận, lại cản trở tân dịch không thể bồi bổ lên trên, dẫn đến phế diệp khô héo, nên không ngừng khạc nhổ nước bọt, ngực họng khô héo v́ không có tân dịch để bồi bổ, khiến cổ họng khô khát.
Điều trị dùng thang Sinh khương Cam thảo, bồi bổ thổ sinh kim, bổ tân dịch nhuận táo. Trong phương có Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo bổ tỳ khí, hoá sinh tân dịch, dưỡng ẩm trị khô khan; Sinh khương tân tán (vị cay phát tán) ấm áp lưu thông (ôn thông), ấm áp trung cung (thổ vị) phân bố tân dịch.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú】Thang dược này cũng là phép mở rộng của một vị Cam thảo, hai vị Nhân sâm, Cam thảo sinh tân dịch để trị chứng hư nhiệt ở ngực và cổ họng, Khương, Táo khai thông khí ở thượng tiêu, khiến dương trong lồng ngực không tŕ trệ và âm hoả cũng tự tắt, tuy nhiên cũng không thể chỉ với một, hai thang mà có thể thu được hiệu quả.
《Thiên Kim》【Quế chi khứ Thược dược gia Tạo Giáp thang】Trị chứng phế nuy thổ dăi bọt.
Quế chi Sinh khương đều 3 lạng Cam thảo 2 lạng Đại táo 10 quả Tạo giáp 1 quả, bỏ vỏ, nướng khô
5 vị trên, dùng 7 thăng nước, nấu với lửa nhỏ cạn c̣n 3 thăng, phân ba lần uống lúc thuốc ấm.
【Giải thích】
Phương thang này thảo luận về hội chứng và trị pháp của chứng phế nuy do khí không hoá thành tân dịch. V́ khí lạnh không ấm áp, dương ở lồng ngực không phân bố, khiến tân dịch của phế bị cạn, là nguyên nhân thành chứng nuy. Chứng này khạc ra dăi bọt, th́ không phải là không có tân dịch, mà tuy có tân dịch nhưng không thể thu giữ và phân bố.
Điều trị bệnh dùng Quế chi khứ Thược dược gia Tạo Giáp thang. Trong phương có Cam thảo, Sinh khương, Đại táo ôn bổ dương khí của tâm phế, và có công hiệu sinh tân dịch dưỡng ẩm, tán hàn lănh và ấm áp tạng phế, Quế chi ấm áp khai thông hung phế, khai thông vận hành doanh vệ, và Tạo giáp thông lợi khiếu để trừ đàm trọc.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Biên Chú】Dùng thang Quế chi hiềm tính chua thu liễm của Thược được nên khứ Thược, gia Tạo giáp lợi dăi bọt thông khiếu, để dăi bọt không nghẽn tắc trở ngại phế khí mà phát suyễn nuy; Quế chi điều hoà doanh vệ, khiến doanh vệ khai thông vận hành khiến phế khí phấn chấn và hết dăi bọt.
《Ngoại Đài》【Cát cánh bạch tán】Trị chứng ho tức ngực, chấn hàn (run rẩy) cơ thể v́ lạnh, mạch sác, họng khô không khát, khạc ra nước dăi đặc tanh hôi, lâu lâu thổ ra mủ như nước gạo, là chứng phế ung.
Cát cánh Bối mẫu mỗi vị 3 phân Ba đậu 1 phân bỏ vỏ, sao rồi nghiền như dầu
3 vị trên, tán bột, người to khoẻ uống 1 th́a, người gầy yếu giảm bớt. Bệnh ở phía trên hoành cách, thổ ra máu mủ, bệnh dưới hoành cách th́ đi tả ra; Nếu tả hạ không ngừng, uống 1 chén nước lạnh th́ hết.
【Giải thích】
Phương dược này được dùng để thảo luận biện chứng luận trị chứng phế ung do thấp nhiệt hoả độc gây ra, v́ hàn đàm lănh ẩm nghẽn tắc ở phế, lâu ngày hoá nhiệt gây rữa nát khí huyết, ngực đau tức âm ỉ, ho khạc đàm vàng tanh hôi, lâu lâu ra mủ như nước cháo, thành chứng phế ung. H́nh thành mủ ở trong, độc khí thấy ở ngoài, khiến cơ thể chấn hàn (run rẩy), mạch sác, hàn đàm khiến tân dịch không thể phân bố, nên họng khô mà không khát.
Điều trị dùng Cát cánh Bạch tán trừ đàm mủ. Trong phương có Bối mẫu khai mở uất kết trong ngực, để thuận lợi cho Ba đậu công trục mạnh mẽ mà nhanh chóng phá mủ đuổi độc xuất ra ngoài, Cát cánh khai đề (nâng) phế khí, dẫn dược thượng hành để đuổi hết độc ở ngực và phế.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú】
Đây là hội chứng thang Cát cánh trước đây. Tuy nhiên, việc thay thế Cam thảo bằng Ba đậu lại cực kỳ hiệu quả. Bởi v́ những triệu chứng này nguy hiểm đến hô hấp, có vô số di họa do sự bất cẩn, v́ thế nên xác định là người mạnh mẽ hoặc có triệu chứng nguy hiểm. Rất chính đáng để dùng phương cấp cứu này. Đừng e ngại nó quá mănh liệt mà ngồi yên để chờ chết.
《Thiên Kim》【Vi hành thang】Trị ho sốt nhẹ, đầy bụng, vùng ngực sần sùi như vảy cá, chính là chứng phế ung.
Vi hành 2 thăng Ư rĩ ½ thăng Đào nhân 50 hạt Qua biện ½ thăng.
4 vị trên, dùng 1 đấu nước, đầu tiên nấu Vi hành c̣n 5 thăng, bỏ bă, cho thuốc c̣n lại vào, nấu c̣n 2 thăng, uống 1 thăng, uống lại lần 2, thổ ra như mủ.
【Giải thích】
Phương này thảo luận về biện chứng luận trị bệnh của tạng phế. Do thấp nhiệt nội kết, đàm nhiệt ứ huyết uất kết trong phế, v́ thế nên ho và sốt nhẹ, đầy bụng, thổ ra đàm vàng máu mủ tanh hôi. Khí trệ huyết ngưng ở phế, không thể nuôi dưỡng da thịt, nên da thịt ở vùng ngực sần sùi như có vảy. Điều trị dùng thang Vi hành, trong phương có vị Vi hành thanh phế tiết nhiệt, lợi phế hoạt đàm, Ư rĩ lợi thấp trừ mủ, trị mủ độc ở phế kinh, Đông qua tử trừ nhiệt hoá kết, gột sạch mủ máu đàm trọc, Đào nhân hoạt huyết khứ ứ, trừ nhiệt độc ở huyết phận.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú】Đây là dương tễ trị chứng phế ung. Ho mà sốt nhẹ, chính là biểu hiện của bệnh tà ở dương phận; Đầy bụng là hiệp thấp; Đến vùng ngực sần sùi là h́nh thể bệnh bên trong, nên sần sùi chỉ thấy ở ngực, là khí huyết ở ngực đều bị bệnh. V́ thế với vị Vi hành khinh phù (nhẹ nổi) mà vị ngọt tính hàn, giải trừ khí nóng ở dương phận, Đào nhân loại bỏ nhiệt kết ở huyết phận, Ư rĩ giảm thấp trong phế, Qua biện trừ kết nhiệt mà thổ ra đàm trọc hư bại. Gọi là bệnh ở trên th́ vượt lên thôi.
肺痈胸满胀,一身面目浮肿,鼻塞清涕出,不闻香臭酸辛,咳逆上气,喘鸣迫塞,葶苈大枣泻肺汤主之。
15/ Phế ung hung trướng măn, nhất thân diện mục phù thũng, tỵ tắc thanh thế xuất, bất văn hương xú toan tân, khái nghịch thượng khí, suyễn minh bách tắc, Đ́nh lịch đại táo tả phế thang chủ chi.
Phương này xem ở phần trước, 3 ngày 1 tễ, có thể đến 3,4 ngày, đầu tiên uống 1 thang Tiểu thanh long, thang Tiểu thanh long là thuốc điều trị bệnh ho.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng thấp nhiệt nghẽn tắc ở tạng phế tạo thành ung nhọt mà chưa thành mủ. Do đàm nhiệt hoả độc, nước dăi đục có bọt, nghẽn tắc ở phế, khí cơ bị trở ngại, nên ngực tức trướng, suyễn minh bức bách nghẽn tắc, không thể thông điều thuỷ đạo, nên thuỷ khí tràn lan, v́ thế toàn thân mặt mắt bị phù thũng. Phế khí không thuận lợi, không nắm giữ được tân dịch nên nghẹt mũi chảy nước mũi, không phân biệt được mùi thơm hôi.
【Tuyển chú】
【Kim Quỹ Yếu Lược Trực Giải】Ung nhọt ở phế nên ngực tức trướng, phề triều bách mạch (biểu hiện công năng của phế) mà chủ da lông, phế bệnh , khiến toàn thân diện mục cũng phù thũng, phế khí tắc nghẽn nên súc môn (tỵ khiếu) không mở, nhưng nước mũi thấm tiết ra, mà mủ đặc lại nghẽn tắc giữa mũi và phế, v́ thế nên cũng không thể phân biệt thơm, hôi, chua cay. Để khí nghịch lên thượng tiêu, th́ xuất hiện chứng hen suyễn bức bách tắc
nghẽn, dùng thang Đ́nh lịch Đại táo để tả phế.
Lời kết
Thiên này thảo luận về tạng phế, bệnh của tạng phế và biện chứng luận trị bệnh ho suyễn. Bệnh phế nuy có hai loại h́nh hư nhiệt và hư hàn. Phế nuy hư nhiệt có thể dùng thang Mạch môn đông, dưỡng vị nhuận phế, đồng thời thanh trừ hư hoả. Phế nuy hư hàn trước tiên dùng thang Cam thảo Can khương, ôn phế khôi phục khí để ràng buộc hạ tiêu và phân bố tân dịch. Bệnh ở phế cần phân biệt là đă thành mủ hoặc chưa thành mủ, khi chưa thành mủ, có thể dùng thang Đ́nh lịch Đại táo tả phế, khai tiết phế khí. Nếu đă thành mủ, thời gian đă lâu th́ dùng thang Cát cánh, trừ mủ giải độc mà không tổn thương chính khí. Đến thang Vi hành của
《Thiên Kim》thanh tả phế nhiệt, kèm theo có các tác dụng như trục đàm trừ mủ giải ung, đối với chứng phế ung đă thành mủ hoặc chưa thành mủ đều có thể ứng dụng.
Chứng ho suyễn có phân thành hàn nhiệt hư thực: Chứng ho suyễn hư hoả thượng viêm có thể dùng thang Mạch môn đông thanh dưỡng phế vị, chỉ nghịch hạ khí; Ho suyễn do đàm trọc nghẽn tắc quá nhiều, có thể dùng hoàn Tạo giác gột rửa đàm bẩn, ho suyễn do ngoại hàn nội ẩm, có thể dùng thang Xạ can Ma hoàng tán hàn khai tê hoá ẩm; Ho suyễn do hàn ẩm bức bách lên trên, có thể dùng thang Hậu phác ma hoàng ôn tán hàn tà, giáng khí hoá ẩm; Ho suyễn thực chứng do thuỷ ẩm đ́nh trệ bên trong, có thể dùng thang Trạch tất trục thuỷ khí, trị ho suyễn.
Phế khí trướng đầy là do đàm ẩm uất phế gây ra. Cần biện rơ sự khác biệt của nhiệt ẩm và hàn ẩm. Nếu nhiệt ẩm gây nghẽn tắc trong phế, có thể dùng thang Việt t́ gia Bán hạ, tuyên phế tiết nhiệt, giáng nghịch trị suyễn; Hàn ẩm gây tắc nghẽn trong phế, bên trong kèm theo rất nóng, có thể dùng thang Tiểu thanh long gia Thạch cao, để bên ngoài tán hàn tà và bên trong thanh nhiệt tà.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:21:33 | 08 Bệnh mạch chứng trị bệnh khí bôn đồn
Bệnh mạch chứng trị bệnh khí bôn đồn
Khái thuyết
Thiên này chủ yếu thảo luận về biện chứng luận trị bệnh khí bôn đồn. Trong thiên có 5 điều văn và 3 phương dược. Trong đó điều 1 và 2 là tổng luận về bệnh khí bôn đồn, tŕnh bày khá sâu về cơ chế phát bệnh và chứng trạng của bệnh. Điều 3,4 và 5 là biện chứng luận trị bệnh khí bôn đồn.
Khí bôn đồn là một bệnh phát tác có tính đột ngột, khí xông lên từ bụng dưới lên cổ họng, v́ khí xông lên mạnh mẽ cấp bách, tựa như lợn chạy nên gọi là bệnh khí bôn đồn (lợn chạy). Loại bệnh này có nguyên nhân ở gan hoặc phát tác do thận là hai loại khác nhau. Hội chứng của chúng là: “Khí ṭng thiểu phúc, thượng xung yết hầu, phác tác dục tử, phục hoàn chỉ” (气从少腹,上冲 咽喉,发作欲死,复还止。) Khí từ bụng dưới, tràn lên cổ họng, khi phát tác đau khổ như muốn chết, sau đó khí ngưng lại, đó là chứng trạng lâm sàng đặc trưng của bệnh.
Bệnh khí bôn đồn thường do hoảng sợ kích động khí của can thận xông lên mà thành, do ức chế hoặc huyết không nuôi can làm cho can khí xông lên, và tâm dương hư, khí thuỷ hàn phạm lên mà gây ra bệnh.
1. 师曰:病有奔豚,有吐脓,有惊怖,有火邪,此四部病,皆从惊发得之。
1/ Thày viết: Bệnh hữu bôn đồn, hữu thổ nùng, hữu kinh bố, hữu hoả tà, thử tứ bộ bệnh, giai ṭng kinh phát đắc chi.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận về 4 bộ bệnh là khí bôn đồn, thổ ra mủ, cực kỳ sợ hăivà hoả tà, tất cả đều do hoảng sợ mà phát bệnh. Sợ hăi là do tinh thận đột nhiên tiếp thụ kích thích, mà tạng tâm thụ bệnh trước tiên, tạng tâm thụ bệnh nếu dẫn đến khí thuỷ hàn của thận xâm phạm lên trên th́ thành bệnh khí bôn đồn, nếu tâm thụ bệnh, và liên luỵ đến vị, vị hoá theo hoả của Thiếu âm mà sinh ung nhọt bên trong và phát sinh “Thổ nùng” (吐脓) thổ ra mủ, nếu tạng tâm bị bệnh mà can phong được hoả nhiệt của Thiếu âm kích động, th́ có thể phát sinh “Kinh bố” (惊怖) là cực kỳ sợ hăi; Nếu tâm bệnh sinh hoả, mà thận thuỷ không thể tương giao với tâm hoả ở trên, nên tâm hoả không bị hạn chế mà mạnh (thái quá) nên thành hoả tà. Do đó có thể thấy, bốn bộ bệnh trên đều theo sợ hăi mà phát bệnh. Tuy nhiên bài văn này chủ yếu thảo luận về bệnh khí bôn đồn, c̣n các chứng thổ và các hội chứng khác th́ chỉ là những phát minh có liên quan mà thôi.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》Phàm tạng tâm ở người tàng chứa thần, tâm an th́ thần an, nếu có sự việc bên ngoài đột nhiên kinh động tâm, khiến thần hồn bay mất, mà làm cho khí, huyết đều chạy theo. Phàm khi con người vui th́ khí “khai” (开) mở, lo âu th́ khí “liễm” (敛) thu liễm, giận dữ th́ khí “Xỉ” (侈) lăng phí khí, sợ hăi th́ khí “Khiểm” (歉) khí thất thoát, tâm sợ hăi th́ khí huyết đi theo, khí lại càng thất thoát th́ càng cản trở bế tàng, rồi kết tụ thành bệnh, và là căn nguyên của bốn bộ bệnh là bôn đồn, thổ mủ, kinh bố (sợ hăi) và hoả tà.
2. 师曰:奔豚病从少腹起,上冲咽喉,发作欲死,复还止,皆从惊恐得之。
2/ Thày viết: Bôn đồn bệnh ṭng thiểu phúc khởi, thượng xung yết hầu, phát tác dục tử, phục hoàn chỉ, giai ṭng kinh khủng đắc chi.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và nguyên nhân của bệnh bôn đồn. Những biến hoá của sợ hăi, như tư lự (suy nghĩ) dễ tổn thương tâm thần (tâm tàng thần), hoảng sợ th́ dễ tổn thương thận chí (thận tàng chí), nếu thần và chí thụ thương th́ hai tạng tâm và thận bị bệnh, hoả của tâm không thể hạ xuống làm ấm thận thuỷ, thận thuỷ không thể thượng tư (thấm nhuần lên) tâm hoả, khiến thuỷ hoả của tâm thận mất điều hoà, và khí thuỷ tà ở hạ tiêu, có thể từ bụng dưới chạy như lợn, xông lên cổ họng mà thành bệnh bôn đồn, khí bôn đồn lên đến tâm th́ sợ hăi khiếp đảm, trong ḷng rất loạn; Khí bôn đồn lên đến trung tiêu th́ bụng trướng đầy, hoặc trong bụng đầy hơi, lợm giọng muốn nôn. Khi bệnh bôn đồn phát tác, người bệnh có cảm giác rất sợ hăi, nên ghi là “Phát tác dục tử” (发作欲死) khi bệnh phát tác th́ sợ hăi muốn chết. Rồi tuỳ theo xung khí hạ thoái, và chứng trạng cũng giảm dần rồi hết, khôi phục như b́nh thường, nên viết “phục hoàn chỉ” (复还止) rồi ngừng lại.
Điều thứ nhất và thứ hai của thiên này, nói rơ về sự khác biệt của bệnh bôn đồn có nguyên nhân từ tạng can hoặc tạng thận, và tinh thần của điều văn này chủ yếu thiên về hội chứng của thận tà thượng xung.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Bệnh Bôn đồn, cũng là bệnh thận, với bệnh từ bụng dưới xông lên cổ họng, giống như lợn chạy nên có tên là bôn đồn. Bệnh phát tác th́ thận khí xông lên tim gây đau đớn như muốn chết, sau khi phát tác khí suy thoái về thận rồi ngừng lại, v́ thế bệnh có nhẹ nặng khác nhau, tuy nhiên đều do sợ hăi mà phát bệnh. Kinh hăi tổn thương tâm, hoảng sợ tổn thương thận, hai tạng cùng bị bệnh. Thuỷ có thể thắng hoả, thận xâm phạm tâm ở trên, v́ thế điều trị nên dùng trị pháp tả thận và bổ tâm.
3. 奔豚,气上冲胸,腹痛,往来寒热,奔豚汤主之。
3/ Bôn đồn, khí thượng xung hung, văng lai hàn nhiệt, bôn đồn thang chủ chi.
Phương thang Bôn đồn
Cam thao Khung cùng Đương quy mỗi vị 2 lạng Bán hạ 4 lạng Hoàng cầm 2 lạng Sinh Cát căn 5 lạng Thược dược 2 lạng Sinh khương 4 lạng Cam lư căn bạch b́ 1 thăng
9 vị trên, dùng 2 đấu nước, nấu c̣n 5 thăng, uống lúc ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần, đêm 1 lần.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp chứng bôn đồn do can khí thượng nghịch. Do cảm xúc không thoải mái, can khí uất kết, hoá nhiệt động khí, khí xông lên lên ngực; Can khí phạm vị, vị khí uất trệ không thông, nên đau bụng; V́ can đảm có tương quan biểu lư, khí của can bị bệnh sẽ khiến khí thiếu dương ưu uất, nên xuất hiện hàn nhiệt văng lai, điều trị dùng thang Bôn đồn, sơ can thanh nhiệt, giáng nghịch chỉ thống. Trong phương trọng dụng Cam lư căn bạch b́ thanh nhiệt giáng nghịch; Cát căn, Hoàng cầm thanh hoả b́nh can; Xuyên khung, Đương quy, Thược dược điều can hoà huyết; Mà Thược dược, Cam thảo tương hợp lại có tác dụng hoăn cấp chỉ thống; Sinh khương, Bán hạ hoà vị giáng nghịch, các vị thuốc phối hợp với nhau, khiến can khí điều hoà sướng đạt, th́ khí xông lên tự giáng xuống, và mọi chứng liền khỏi.
Bản chứng là do can uất hoá nhiệt dẫn khởi bệnh khí bôn đồn, trong phương trọng dụng Cam lư căn bạch b́ thanh can hoả, giáng xung nghịch. Tuy nhiên Cam lư căn bạch b́ có tác dụng gây ẩu thổ, v́ thế không nên dùng nhiều.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú》Nói rằng chứng Bôn đồn là do bệnh tà của tạng can mà phát bệnh, nên dùng thang Bôn đồn để điều sướng can khí mà khứ khách tà. Lại nói《Thương Hàn Luận》viết: Quyết âm chi vi bệnh, khí thượng xung tâm. Hiện nay chứng bôn đồn lại xuất hiện hàn nhiệt văng lai đau bụng, chính là biểu hiện của can khí uất mà khí cũng thông vào kinh Thiếu dương.
【Bệnh án】
Họ Nhậm x x , nữ, 28t, khám bệnh lần 1 8/1977, Bệnh nhân 2 năm vừa qua nhàn cư tại gia, tâm trạng không tốt, hai tháng gần đây, đột nhiên phát tác khí ở bụng dưới xông thẳng lên cổ họng, nghẹt thở rất khó chịu, ngă xuống đất, sau ít phút th́ cơn phát tác tự hoăn giải, sau đó lại như một người b́nh thường, một tuần phát tác một số lần, có kèm theo các chứng trạng như mất ngủ, hay mơ và rụng tóc. Kiểm tra ở bệnh viện chưa t́m ra được dấu hiệu bệnh lư dương tính, nên được chẩn đoán là “Ư bệnh” (癔病) Hysteria (cuồng loạn). Quan sát thấy chất lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền tế, nghi ngờ là bệnh khí bôn đồn, người viết dùng nguyên phương thang Bôn đồn của Trọng Cảnh: Đương quy pháp Bán hạ mỗi vi 9g Cam thảo Xuyên khung Hoàng cầm Bạch thược Sinh khương mỗi vị 6g Cát căn Lư căn bạch b́ mỗi vị 12g, sắc uống. Sau khi uống liền 3 thang, bệnh ngừng phát tác. Theo dơi 4 năm qua, bệnh cũ vẫn chưa phát tác.
Ngoài ra cũng đă điều trị một bệnh nhân họ Lư, chứng trạng tương đồng, cũng dùng thang Bôn đồn mà khỏi bệnh, theo dơi 3 năm, bệnh chưa tái phát.
4.发汗后,烧针令其汗,针处被寒,核起而赤者,必发奔豚,气从少腹上 至心,灸其核上各一壮,与桂枝加桂汤主之。
4/Phát hăn hậu, thiêu châm linh kỳ hăn, châm xử bị hàn, hạch khởi nhi xích giả, tất phát bôn đồn, khí ṭng thiểu phúc thượng chí tâm, cứu kỳ hạch thượng các nhất tráng, dữ Quế chi gia quế thang chủ chi.
Phương【Quế chi gia quế thang】
Quế chi 5 lạng Thược dược 3 lạng Cam thảo 2 lạng Sinh khương 3 lạng Đại táo 12 quả
5 vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, nấu bằng lửa nhỏ c̣n 3 thăng, bỏ bă uống ấm 1 thăng.
【Từ giải】
Một tráng: Là đốt một điếu ngải, gọi là một tráng.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp của bệnh bôn đồn do dương khí hư nhược dẫn đến âm hàn thượng xung (xông lên). Nguyên nhân do bệnh ở kinh Thái dương phát hăn mà không giải, lại dùng thiêu châm tái phát hăn làm cho thớ thịt (thấu lư) mở lớn, vệ dương không kiên cố, phong tà xâm nhập, nơi châm kim thụ hàn, hàn ngưng huyết mạch, ứ kết ở lỗ kim châm, nên thấy kết khối cứng màu đỏ. V́ phát hăn hai lần, nên tâm dương bị tổn hại, âm hàn trong ngoài hỗ trợ cho nhau, nên có thể xâm phạm tâm dương ở trên, mà phát thành khí từ bụng dưới xông lên tâm, trường hợp bệnh nặng khi phát tác th́ đau đớn như muốn chết.
Điều trị dùng trụ ngải, cứu ở trên hạch đỏ để ôn tán âm hàn, thuốc uống thang Quế chi gia quế, bên ngoài giải tán hàn tà, bên trong tiết âm khí. Trong phương trọng dụng Quế chi, hỗ trợ tâm dương để giải tán âm hàn, b́nh xung giáng nghịch. Chứng này dùng hai phương pháp để điều trị bên trong và bên ngoài, cùng vận dụng ôn dương tán hàn, giáng nghịch b́nh xung để có tác dụng điều hoà doanh vệ.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Thiêu châm cũng là ôn châm, thiêu châm thủ hăn cũng là phép phát hăn, điểm châm nên tránh bị lạnh, nếu không cẩn thận, bị hàn lănh bên ngoài xâm phạm khiến hoả uất trong mạch, huyêt không lưu hành, v́ thế nên xuất hiện kết hạch mẩn đỏ. Phép ôn châm phát hăn là trị pháp nhanh chóng và mạnh mẽ, đă châm mà doanh không thi hành để giải bệnh, chứng tỏ âm hàn của người này rất nặng. V́ thế tuy có hoả của ôn châm, nhưng phát hạch đỏ lại bị hàn xâm phạm, nên chẳng những không giải được bệnh, lại c̣n gây ra âm tà, mà khi châm th́ tâm đă hư kinh (虚惊) hoảng loạn không cần thiết, v́ thế âm tà của thận thuỷ được thể xâm phạm tâm dương mà phát tác bôn đồn. Bệnh bôn đồn là khí âm tà của thận thuỷ, từ bụng dưới xông lên tâm. Đầu tiên cứu trên mỗi hạch một tráng, để khứ hàn tà bên ngoài, kế tiếp dùng thang Quế chi gia quế cũng là phạt tà của thận ở bên trong.
《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》: Sau khi cứu dùng thang Quế chi gia quế chủ trị bệnh này, có ư dùng phép thăng dương để giải tán bệnh tà, kiên cố vệ phận bồi bổ trung tiêu, cho nên sau khi phát hăn cảm hàn lập thành chứng bôn đồn dương suy âm thừa (lấn). Với điều trước chứng bôn đồn thuộc tâm động khí tŕ (lỏng lẻo), khí kết nhiệt tụ có nguồn gốc rất khác biệt.
【Bệnh án】
Hiện người viết điều trị cho một phụ nữ 50 tuổi họ Thôi mắc một căn bệnh kỳ lạ, khi bệnh phát tác bà ta cảm thấy một luồng khí từ trong mắt cá chân chạy dọc theo đùi và vùng xương đùi, đi đến vùng bụng dưới và chướng bụng, đến dưới ngực th́ cô ta thở ngắn và hồi hộp đổ mồ hôi lạnh. Một lát sau, luồng khí sẽ hạ xuống và tất cả các triệu chứng sẽ theo đó mà giảm nhẹ. Mỗi ngày bệnh phát tác 2 đến 3 lần, làm cho bệnh nhân rất sợ hăi. Bệnh nhân sắc mặt nhợt nhạt và hơi vàng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch huyền sác, trọng án vô lực. Chứng này đông y gọi là “Bôn đồn” (奔豚) và là chứng hiếm gặp. Và chứng bôn đồn phát tác th́ đều do tâm dương hư yếu, không thể khống chế được phần trên cơ thể, và âm tà ở phần dưới được thế xông lên. Âm tương tranh với dương, nên mạch tuy huyền sác nhưng trọng án th́ vô lực, huống chi mạch huyền thuộc âm, âm khí nghịch lên chính là mạch huyền. Khi chứng bôn đồn chạy qua sẽ xuất hiện các chứng như đầy trướng, khó thở, trống ngực, cũng không ngạc nhiên khi thấy như vậy. Chất lưỡi nhạt và mềm là biểu hiện của tâm dương hư, điều trị nên hỗ trợ tâm dương, phạt thận giáng xung, dùng nguyên phương thang Quế chi gia Quế, uống thêm 6g Hắc tích đan, tổng cộng uống hết 6 thang th́ bệnh không c̣n phát tác. (Kinh nghiệm điều trị của GS Lưu Độ Châu)
5.发汗后,脐下悸者,欲作奔豚,茯苓桂枝甘草大枣汤主之。
5/ Phát hăn hậu, tề hạ quư giảdục tác bôn đồn, Phục linh Quế chi Cam thảo đại táo thang chủ chi
Phương 【Phục linh Quế chi Cam thảo đại táo thang】
Phục linh1/2 cân Cam thảo 2 lạng, chích Đại táo 15 quả Quế chi 4 lạng
4 vị thuốc trên dùng nước cam lan 1 đấu, đầu tiên nấu vị Phục linh giảm xuống 2 thăng, cho hết thuốc vào, nấu c̣n lại 3 thăng, bỏ bă, uống thuốc lúc ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần. Phương pháp làm lan thuỷ: Lấy hai xô nước đặt vào một cái chậu lớn, sau đó múc ra. Trên mặt nước sẽ có năm đến sáu ngh́n hạt đuổi nhau. Lấy nước có bọt để dùng.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp chứng tâm dương không đầy đủ, thuỷ ẩm nội động muốn phát tác chứng bôn đồn. V́ ở hạ tiêu đă sẵn có thuỷ ẩm lưu lại, cộng thêm cảm thụ phong hàn, phát hăn quá nhiều nên tổn thương tâm dương, tâm dương không c̣n khả năng làm ấm thận thuỷ ở dưới, thuỷ khí muốn xông lên, thuỷ và khí tương bác (đấu tranh), v́ thế nếu dưới rốn có cảm giác bồn chồn hồi hộp, th́ đó là dấu hiệu sắp phát tác chứng bôn đồn.
Điều trị dùng thang Linh Quế Cam Táo, ôn dương lợi thuỷ, bồi bổ thổ để thấm thấp. Phương thang này có chủ dược là Phục linh và Quế chi để ôn dương hoá thuỷ, giao thông hai tạng tâm và thận, tiết giáng xung nghịch; Hai vị Cam thảo và Đại táo có tác dụng hoà trung ích khí, bồi bổ thổ để chế ước thuỷ. Các vị thuốc phối hợp để vận dụng công hiệu ôn dương hạ khí và bồi thổ phạt thuỷ.
Phương thang này và thang Quế chi gia Quế đều thuộc loại h́nh bệnh bôn đồn do dương hư âm thừa (xâm lấn), sự khác biệt ở đây là có hay không có thuỷ ẩm. Hội chứng của thang Quế chi gia quế chính là dương hư sau khi phát hăn, âm khí nhân cơ hội dương hư mà xông lên, v́ thế dùng Quế chi để ôn dương hạ khí; Hội chứng của thang Linh Quế Táo cam là dương hư sau khi phát hăn, thuỷ ẩm nội động gây ra chứng bôn đồn, v́ thế phương này trọng dụng Phục linh để kiện tỳ lợi thuỷ.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Trực giải》Phát hăn dưới rốn bồn chồn hồi hộp là dương khí hư và thận tà thượng nghịch. Dưới rốn là nơi bắt nguồn của thận khí, Phục linh tiết thuỷ để phạt tà của thận, Quế chi vận hành dương để tán nghịch khí, Cam thảo, Đại táo ngọt ấm hỗ trợ tỳ thổ để chế thận thuỷ. Sắc thuốc bằng nước cam lan, không có thuỷ tính nên không hỗ trợ thận tà.
Lời Kết
Thiên này thảo luận về chứng trạng, bệnh cơ và điều trị bệnh bôn đồn. Bệnh bôn đồn do can uất hoá nhiệt thượng xung nên dùng loai thang Bôn đồn, sơ can thanh nhiệt, giáng nhiệt b́nh xung, do dương hư âm hàn thượng nghịch, điều trị dùng thang Quế chi gia quế, ôn dương giáng nghịch, tán hàn tiêu âm, do dương hư thuỷ ẩm nội động, th́ dùng thang Linh Quế Cam Táo để ôn dương lợi thuỷ hạ khí trị hồi hộp.
Trường Xuân Nguyễn Nghị |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:23:26 | 08 Bệnh mạch chứng trị bệnh khí bôn đồn
Bệnh mạch chứng trị bệnh khí bôn đồn
Khái thuyết
Thiên này chủ yếu thảo luận về biện chứng luận trị bệnh khí bôn đồn. Trong thiên có 5 điều văn và 3 phương dược. Trong đó điều 1 và 2 là tổng luận về bệnh khí bôn đồn, tŕnh bày khá sâu về cơ chế phát bệnh và chứng trạng của bệnh. Điều 3,4 và 5 là biện chứng luận trị bệnh khí bôn đồn.
Khí bôn đồn là một bệnh phát tác có tính đột ngột, khí xông lên từ bụng dưới lên cổ họng, v́ khí xông lên mạnh mẽ cấp bách, tựa như lợn chạy nên gọi là bệnh khí bôn đồn (lợn chạy). Loại bệnh này có nguyên nhân ở gan hoặc phát tác do thận là hai loại khác nhau. Hội chứng của chúng là: “Khí ṭng thiểu phúc, thượng xung yết hầu, phác tác dục tử, phục hoàn chỉ” (气从少腹,上冲 咽喉,发作欲死,复还止。) Khí từ bụng dưới, tràn lên cổ họng, khi phát tác đau khổ như muốn chết, sau đó khí ngưng lại, đó là chứng trạng lâm sàng đặc trưng của bệnh.
Bệnh khí bôn đồn thường do hoảng sợ kích động khí của can thận xông lên mà thành, do ức chế hoặc huyết không nuôi can làm cho can khí xông lên, và tâm dương hư, khí thuỷ hàn phạm lên mà gây ra bệnh.
1. 师曰:病有奔豚,有吐脓,有惊怖,有火邪,此四部病,皆从惊发得之。
1/ Thày viết: Bệnh hữu bôn đồn, hữu thổ nùng, hữu kinh bố, hữu hoả tà, thử tứ bộ bệnh, giai ṭng kinh phát đắc chi.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận về 4 bộ bệnh là khí bôn đồn, thổ ra mủ, cực kỳ sợ hăivà hoả tà, tất cả đều do hoảng sợ mà phát bệnh. Sợ hăi là do tinh thận đột nhiên tiếp thụ kích thích, mà tạng tâm thụ bệnh trước tiên, tạng tâm thụ bệnh nếu dẫn đến khí thuỷ hàn của thận xâm phạm lên trên th́ thành bệnh khí bôn đồn, nếu tâm thụ bệnh, và liên luỵ đến vị, vị hoá theo hoả của Thiếu âm mà sinh ung nhọt bên trong và phát sinh “Thổ nùng” (吐脓) thổ ra mủ, nếu tạng tâm bị bệnh mà can phong được hoả nhiệt của Thiếu âm kích động, th́ có thể phát sinh “Kinh bố” (惊怖) là cực kỳ sợ hăi; Nếu tâm bệnh sinh hoả, mà thận thuỷ không thể tương giao với tâm hoả ở trên, nên tâm hoả không bị hạn chế mà mạnh (thái quá) nên thành hoả tà. Do đó có thể thấy, bốn bộ bệnh trên đều theo sợ hăi mà phát bệnh. Tuy nhiên bài văn này chủ yếu thảo luận về bệnh khí bôn đồn, c̣n các chứng thổ và các hội chứng khác th́ chỉ là những phát minh có liên quan mà thôi.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》Phàm tạng tâm ở người tàng chứa thần, tâm an th́ thần an, nếu có sự việc bên ngoài đột nhiên kinh động tâm, khiến thần hồn bay mất, mà làm cho khí, huyết đều chạy theo. Phàm khi con người vui th́ khí “khai” (开) mở, lo âu th́ khí “liễm” (敛) thu liễm, giận dữ th́ khí “Xỉ” (侈) lăng phí khí, sợ hăi th́ khí “Khiểm” (歉) khí thất thoát, tâm sợ hăi th́ khí huyết đi theo, khí lại càng thất thoát th́ càng cản trở bế tàng, rồi kết tụ thành bệnh, và là căn nguyên của bốn bộ bệnh là bôn đồn, thổ mủ, kinh bố (sợ hăi) và hoả tà.
2. 师曰:奔豚病从少腹起,上冲咽喉,发作欲死,复还止,皆从惊恐得之。
2/ Thày viết: Bôn đồn bệnh ṭng thiểu phúc khởi, thượng xung yết hầu, phát tác dục tử, phục hoàn chỉ, giai ṭng kinh khủng đắc chi.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và nguyên nhân của bệnh bôn đồn. Những biến hoá của sợ hăi, như tư lự (suy nghĩ) dễ tổn thương tâm thần (tâm tàng thần), hoảng sợ th́ dễ tổn thương thận chí (thận tàng chí), nếu thần và chí thụ thương th́ hai tạng tâm và thận bị bệnh, hoả của tâm không thể hạ xuống làm ấm thận thuỷ, thận thuỷ không thể thượng tư (thấm nhuần lên) tâm hoả, khiến thuỷ hoả của tâm thận mất điều hoà, và khí thuỷ tà ở hạ tiêu, có thể từ bụng dưới chạy như lợn, xông lên cổ họng mà thành bệnh bôn đồn, khí bôn đồn lên đến tâm th́ sợ hăi khiếp đảm, trong ḷng rất loạn; Khí bôn đồn lên đến trung tiêu th́ bụng trướng đầy, hoặc trong bụng đầy hơi, lợm giọng muốn nôn. Khi bệnh bôn đồn phát tác, người bệnh có cảm giác rất sợ hăi, nên ghi là “Phát tác dục tử” (发作欲死) khi bệnh phát tác th́ sợ hăi muốn chết. Rồi tuỳ theo xung khí hạ thoái, và chứng trạng cũng giảm dần rồi hết, khôi phục như b́nh thường, nên viết “phục hoàn chỉ” (复还止) rồi ngừng lại.
Điều thứ nhất và thứ hai của thiên này, nói rơ về sự khác biệt của bệnh bôn đồn có nguyên nhân từ tạng can hoặc tạng thận, và tinh thần của điều văn này chủ yếu thiên về hội chứng của thận tà thượng xung.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Bệnh Bôn đồn, cũng là bệnh thận, với bệnh từ bụng dưới xông lên cổ họng, giống như lợn chạy nên có tên là bôn đồn. Bệnh phát tác th́ thận khí xông lên tim gây đau đớn như muốn chết, sau khi phát tác khí suy thoái về thận rồi ngừng lại, v́ thế bệnh có nhẹ nặng khác nhau, tuy nhiên đều do sợ hăi mà phát bệnh. Kinh hăi tổn thương tâm, hoảng sợ tổn thương thận, hai tạng cùng bị bệnh. Thuỷ có thể thắng hoả, thận xâm phạm tâm ở trên, v́ thế điều trị nên dùng trị pháp tả thận và bổ tâm.
3. 奔豚,气上冲胸,腹痛,往来寒热,奔豚汤主之。
3/ Bôn đồn, khí thượng xung hung, văng lai hàn nhiệt, bôn đồn thang chủ chi.
Phương thang Bôn đồn
Cam thao Khung cùng Đương quy mỗi vị 2 lạng Bán hạ 4 lạng Hoàng cầm 2 lạng Sinh Cát căn 5 lạng Thược dược 2 lạng Sinh khương 4 lạng Cam lư căn bạch b́ 1 thăng
9 vị trên, dùng 2 đấu nước, nấu c̣n 5 thăng, uống lúc ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần, đêm 1 lần.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp chứng bôn đồn do can khí thượng nghịch. Do cảm xúc không thoải mái, can khí uất kết, hoá nhiệt động khí, khí xông lên lên ngực; Can khí phạm vị, vị khí uất trệ không thông, nên đau bụng; V́ can đảm có tương quan biểu lư, khí của can bị bệnh sẽ khiến khí thiếu dương ưu uất, nên xuất hiện hàn nhiệt văng lai, điều trị dùng thang Bôn đồn, sơ can thanh nhiệt, giáng nghịch chỉ thống. Trong phương trọng dụng Cam lư căn bạch b́ thanh nhiệt giáng nghịch; Cát căn, Hoàng cầm thanh hoả b́nh can; Xuyên khung, Đương quy, Thược dược điều can hoà huyết; Mà Thược dược, Cam thảo tương hợp lại có tác dụng hoăn cấp chỉ thống; Sinh khương, Bán hạ hoà vị giáng nghịch, các vị thuốc phối hợp với nhau, khiến can khí điều hoà sướng đạt, th́ khí xông lên tự giáng xuống, và mọi chứng liền khỏi.
Bản chứng là do can uất hoá nhiệt dẫn khởi bệnh khí bôn đồn, trong phương trọng dụng Cam lư căn bạch b́ thanh can hoả, giáng xung nghịch. Tuy nhiên Cam lư căn bạch b́ có tác dụng gây ẩu thổ, v́ thế không nên dùng nhiều.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Thiển Chú》Nói rằng chứng Bôn đồn là do bệnh tà của tạng can mà phát bệnh, nên dùng thang Bôn đồn để điều sướng can khí mà khứ khách tà. Lại nói《Thương Hàn Luận》viết: Quyết âm chi vi bệnh, khí thượng xung tâm. Hiện nay chứng bôn đồn lại xuất hiện hàn nhiệt văng lai đau bụng, chính là biểu hiện của can khí uất mà khí cũng thông vào kinh Thiếu dương.
【Bệnh án】
Họ Nhậm x x , nữ, 28t, khám bệnh lần 1 8/1977, Bệnh nhân 2 năm vừa qua nhàn cư tại gia, tâm trạng không tốt, hai tháng gần đây, đột nhiên phát tác khí ở bụng dưới xông thẳng lên cổ họng, nghẹt thở rất khó chịu, ngă xuống đất, sau ít phút th́ cơn phát tác tự hoăn giải, sau đó lại như một người b́nh thường, một tuần phát tác một số lần, có kèm theo các chứng trạng như mất ngủ, hay mơ và rụng tóc. Kiểm tra ở bệnh viện chưa t́m ra được dấu hiệu bệnh lư dương tính, nên được chẩn đoán là “Ư bệnh” (癔病) Hysteria (cuồng loạn). Quan sát thấy chất lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền tế, nghi ngờ là bệnh khí bôn đồn, người viết dùng nguyên phương thang Bôn đồn của Trọng Cảnh: Đương quy pháp Bán hạ mỗi vi 9g Cam thảo Xuyên khung Hoàng cầm Bạch thược Sinh khương mỗi vị 6g Cát căn Lư căn bạch b́ mỗi vị 12g, sắc uống. Sau khi uống liền 3 thang, bệnh ngừng phát tác. Theo dơi 4 năm qua, bệnh cũ vẫn chưa phát tác.
Ngoài ra cũng đă điều trị một bệnh nhân họ Lư, chứng trạng tương đồng, cũng dùng thang Bôn đồn mà khỏi bệnh, theo dơi 3 năm, bệnh chưa tái phát.
4.发汗后,烧针令其汗,针处被寒,核起而赤者,必发奔豚,气从少腹上 至心,灸其核上各一壮,与桂枝加桂汤主之。
4/Phát hăn hậu, thiêu châm linh kỳ hăn, châm xử bị hàn, hạch khởi nhi xích giả, tất phát bôn đồn, khí ṭng thiểu phúc thượng chí tâm, cứu kỳ hạch thượng các nhất tráng, dữ Quế chi gia quế thang chủ chi.
Phương【Quế chi gia quế thang】
Quế chi 5 lạng Thược dược 3 lạng Cam thảo 2 lạng Sinh khương 3 lạng Đại táo 12 quả
5 vị thuốc trên, dùng 7 thăng nước, nấu bằng lửa nhỏ c̣n 3 thăng, bỏ bă uống ấm 1 thăng.
【Từ giải】
Một tráng: Là đốt một điếu ngải, gọi là một tráng.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp của bệnh bôn đồn do dương khí hư nhược dẫn đến âm hàn thượng xung (xông lên). Nguyên nhân do bệnh ở kinh Thái dương phát hăn mà không giải, lại dùng thiêu châm tái phát hăn làm cho thớ thịt (thấu lư) mở lớn, vệ dương không kiên cố, phong tà xâm nhập, nơi châm kim thụ hàn, hàn ngưng huyết mạch, ứ kết ở lỗ kim châm, nên thấy kết khối cứng màu đỏ. V́ phát hăn hai lần, nên tâm dương bị tổn hại, âm hàn trong ngoài hỗ trợ cho nhau, nên có thể xâm phạm tâm dương ở trên, mà phát thành khí từ bụng dưới xông lên tâm, trường hợp bệnh nặng khi phát tác th́ đau đớn như muốn chết.
Điều trị dùng trụ ngải, cứu ở trên hạch đỏ để ôn tán âm hàn, thuốc uống thang Quế chi gia quế, bên ngoài giải tán hàn tà, bên trong tiết âm khí. Trong phương trọng dụng Quế chi, hỗ trợ tâm dương để giải tán âm hàn, b́nh xung giáng nghịch. Chứng này dùng hai phương pháp để điều trị bên trong và bên ngoài, cùng vận dụng ôn dương tán hàn, giáng nghịch b́nh xung để có tác dụng điều hoà doanh vệ.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Thiêu châm cũng là ôn châm, thiêu châm thủ hăn cũng là phép phát hăn, điểm châm nên tránh bị lạnh, nếu không cẩn thận, bị hàn lănh bên ngoài xâm phạm khiến hoả uất trong mạch, huyêt không lưu hành, v́ thế nên xuất hiện kết hạch mẩn đỏ. Phép ôn châm phát hăn là trị pháp nhanh chóng và mạnh mẽ, đă châm mà doanh không thi hành để giải bệnh, chứng tỏ âm hàn của người này rất nặng. V́ thế tuy có hoả của ôn châm, nhưng phát hạch đỏ lại bị hàn xâm phạm, nên chẳng những không giải được bệnh, lại c̣n gây ra âm tà, mà khi châm th́ tâm đă hư kinh (虚惊) hoảng loạn không cần thiết, v́ thế âm tà của thận thuỷ được thể xâm phạm tâm dương mà phát tác bôn đồn. Bệnh bôn đồn là khí âm tà của thận thuỷ, từ bụng dưới xông lên tâm. Đầu tiên cứu trên mỗi hạch một tráng, để khứ hàn tà bên ngoài, kế tiếp dùng thang Quế chi gia quế cũng là phạt tà của thận ở bên trong.
《Kim Quỹ Yếu Lược Phương Luận Bản Nghĩa》: Sau khi cứu dùng thang Quế chi gia quế chủ trị bệnh này, có ư dùng phép thăng dương để giải tán bệnh tà, kiên cố vệ phận bồi bổ trung tiêu, cho nên sau khi phát hăn cảm hàn lập thành chứng bôn đồn dương suy âm thừa (lấn). Với điều trước chứng bôn đồn thuộc tâm động khí tŕ (lỏng lẻo), khí kết nhiệt tụ có nguồn gốc rất khác biệt.
【Bệnh án】
Hiện người viết điều trị cho một phụ nữ 50 tuổi họ Thôi mắc một căn bệnh kỳ lạ, khi bệnh phát tác bà ta cảm thấy một luồng khí từ trong mắt cá chân chạy dọc theo đùi và vùng xương đùi, đi đến vùng bụng dưới và chướng bụng, đến dưới ngực th́ cô ta thở ngắn và hồi hộp đổ mồ hôi lạnh. Một lát sau, luồng khí sẽ hạ xuống và tất cả các triệu chứng sẽ theo đó mà giảm nhẹ. Mỗi ngày bệnh phát tác 2 đến 3 lần, làm cho bệnh nhân rất sợ hăi. Bệnh nhân sắc mặt nhợt nhạt và hơi vàng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch huyền sác, trọng án vô lực. Chứng này đông y gọi là “Bôn đồn” (奔豚) và là chứng hiếm gặp. Và chứng bôn đồn phát tác th́ đều do tâm dương hư yếu, không thể khống chế được phần trên cơ thể, và âm tà ở phần dưới được thế xông lên. Âm tương tranh với dương, nên mạch tuy huyền sác nhưng trọng án th́ vô lực, huống chi mạch huyền thuộc âm, âm khí nghịch lên chính là mạch huyền. Khi chứng bôn đồn chạy qua sẽ xuất hiện các chứng như đầy trướng, khó thở, trống ngực, cũng không ngạc nhiên khi thấy như vậy. Chất lưỡi nhạt và mềm là biểu hiện của tâm dương hư, điều trị nên hỗ trợ tâm dương, phạt thận giáng xung, dùng nguyên phương thang Quế chi gia Quế, uống thêm 6g Hắc tích đan, tổng cộng uống hết 6 thang th́ bệnh không c̣n phát tác. (Kinh nghiệm điều trị của GS Lưu Độ Châu)
5.发汗后,脐下悸者,欲作奔豚,茯苓桂枝甘草大枣汤主之。
5/ Phát hăn hậu, tề hạ quư giảdục tác bôn đồn, Phục linh Quế chi Cam thảo đại táo thang chủ chi
Phương 【Phục linh Quế chi Cam thảo đại táo thang】
Phục linh1/2 cân Cam thảo 2 lạng, chích Đại táo 15 quả Quế chi 4 lạng
4 vị thuốc trên dùng nước cam lan 1 đấu, đầu tiên nấu vị Phục linh giảm xuống 2 thăng, cho hết thuốc vào, nấu c̣n lại 3 thăng, bỏ bă, uống thuốc lúc ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần. Phương pháp làm lan thuỷ: Lấy hai xô nước đặt vào một cái chậu lớn, sau đó múc ra. Trên mặt nước sẽ có năm đến sáu ngh́n hạt đuổi nhau. Lấy nước có bọt để dùng.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và trị pháp chứng tâm dương không đầy đủ, thuỷ ẩm nội động muốn phát tác chứng bôn đồn. V́ ở hạ tiêu đă sẵn có thuỷ ẩm lưu lại, cộng thêm cảm thụ phong hàn, phát hăn quá nhiều nên tổn thương tâm dương, tâm dương không c̣n khả năng làm ấm thận thuỷ ở dưới, thuỷ khí muốn xông lên, thuỷ và khí tương bác (đấu tranh), v́ thế nếu dưới rốn có cảm giác bồn chồn hồi hộp, th́ đó là dấu hiệu sắp phát tác chứng bôn đồn.
Điều trị dùng thang Linh Quế Cam Táo, ôn dương lợi thuỷ, bồi bổ thổ để thấm thấp. Phương thang này có chủ dược là Phục linh và Quế chi để ôn dương hoá thuỷ, giao thông hai tạng tâm và thận, tiết giáng xung nghịch; Hai vị Cam thảo và Đại táo có tác dụng hoà trung ích khí, bồi bổ thổ để chế ước thuỷ. Các vị thuốc phối hợp để vận dụng công hiệu ôn dương hạ khí và bồi thổ phạt thuỷ.
Phương thang này và thang Quế chi gia Quế đều thuộc loại h́nh bệnh bôn đồn do dương hư âm thừa (xâm lấn), sự khác biệt ở đây là có hay không có thuỷ ẩm. Hội chứng của thang Quế chi gia quế chính là dương hư sau khi phát hăn, âm khí nhân cơ hội dương hư mà xông lên, v́ thế dùng Quế chi để ôn dương hạ khí; Hội chứng của thang Linh Quế Táo cam là dương hư sau khi phát hăn, thuỷ ẩm nội động gây ra chứng bôn đồn, v́ thế phương này trọng dụng Phục linh để kiện tỳ lợi thuỷ.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Trực giải》Phát hăn dưới rốn bồn chồn hồi hộp là dương khí hư và thận tà thượng nghịch. Dưới rốn là nơi bắt nguồn của thận khí, Phục linh tiết thuỷ để phạt tà của thận, Quế chi vận hành dương để tán nghịch khí, Cam thảo, Đại táo ngọt ấm hỗ trợ tỳ thổ để chế thận thuỷ. Sắc thuốc bằng nước cam lan, không có thuỷ tính nên không hỗ trợ thận tà.
Lời Kết
Thiên này thảo luận về chứng trạng, bệnh cơ và điều trị bệnh bôn đồn. Bệnh bôn đồn do can uất hoá nhiệt thượng xung nên dùng loai thang Bôn đồn, sơ can thanh nhiệt, giáng nhiệt b́nh xung, do dương hư âm hàn thượng nghịch, điều trị dùng thang Quế chi gia quế, ôn dương giáng nghịch, tán hàn tiêu âm, do dương hư thuỷ ẩm nội động, th́ dùng thang Linh Quế Cam Táo để ôn dương lợi thuỷ hạ khí trị hồi hộp.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch |  | |
Replied by Trường Xuân (Hội Viên) on 2025-12-28 19:27:49 | Thiên 09 Hung tí tâm thống đoản khí bệnh mạch chứng trị
Thiên 09 Hung tí tâm thống đoản khí bệnh mạch chứng trị
(Mạch chứng và điều trị bệnh tâm giảo thống c̣n gọi là cơn đau thắt ngực)
Khái thuyết
Thiên này tŕnh bày biện chứng luận trị chứng hung tí, tâm thống, v́ chứng đoản khí (khó thở) là biến chứng của hung tí, tâm thống, v́ thế sẽ cùng thảo luận trong thiên, thiên này tổng cộng có 9 điều văn, ghi lại 10 phương dược trong dó bao gồm 1 phương phụ. Điều văn 1 và 2, tŕnh bày tương đối chuyên sâu về cơ chế phát bệnh, và phân biệt hai chứng hư, thực, và v́ thế đây cũng là tổng luận của chứng hung tí, tâm thống. Từ điều 3 đến điều 7 thảo luận tương đối chuyên sâu về các vấn đề như hội chứng chủ yếu và các phương tễ đại biểu của chứng hung tí, và c̣n thảo luận thêm về kiêm chứng của nó. Điều 8 và 9 thuật lại hội chứng và trị liệu của chứng tâm thống, Vị trí bệnh của hung tí, tâm thống phân thành thiên lên trên và thiên xuống dưới, tuy nhiên bộ vị bệnh biến đều ở tâm hung (vùng tim trong ngực), lại có thể đồng thời phát bệnh, với chứng khó thở (đoản khí), trong cả hai chứng (hung tí, tâm thống) đều có liên hệ nội tại, v́ thế hợp thành 1 thiên để thuận tiện thảo luận.
Hung tí là tên của hội chứng, lại chính là khái quát của vị trí bệnh và cơ chế bệnh. Do dương khí yếu nhược, âm hàn nội thịnh, làm cho dương trong lồng ngực bế tắc không thông, xuất hiện chứng trạng có đặc điểm là đau ngực lan sang lưng, v́ thế gọi là hung tí.
Tâm thống chính là hội chứng đau ở vị quản, mà cơ chế bệnh chính là do dương hư âm thịnh, khí cơ không thông mà ra.
Đoản khí là do hô hấp bức bách xuất hiện chứng trạng tựa như suyễn, mà nguyên nhân thường do thực chứng của đàm ẩm thấp trọc gây trở ngại khí cơ; Mà thiểu khí là không đủ khí để thở, chính là hội chứng của phế khí hư. Chứng đoản khí thảo luận trong thiên này đa phần là hội chứng phát kèm theo của chứng hung tí, tâm thống.
1.师曰:夫脉当取太过不及,阳微阴弦,即胸痹而痛,所以然者,责其极 虚也。今阳虚知在上焦,所以胸痹心痛者,以其阴弦故也。
1/ Sư viết: Phu mạch đương thủ thái quá bất cập, dương vi âm huyền, tức hung tí nhi thống, sở dĩ nhiên giả, trách kỳ cực hư dă. Kim dương hư tri tại thượng tiêu, sở dĩ hung tí tâm thống giả, dĩ kỳ âm huyền cố dă.
【Từ giải】
Thái quá bất cập, là chỉ bộ quan tiền dương vi là bất cập, hậu âm huyền là thái quá.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày bệnh hung tí tâm thống đều do hư xử dung tà (虚处容邪) ư nghĩa từ nội kinh “Hư chi sở cực, sở dung tà xử”(虚之所极,所容邪处) nơi nào hư tổn cực độ là nơi đó dung chứa bệnh tà, có thể theo mạch tượng để truy t́m nguồn gốc bệnh. V́ dương khí trong ngực không phấn chấn, vệ khí không vận hành, v́ thế trước bộ quan là bộ thốn thấy mạch vi, vi là dương vi, là dương khí bất cập. Nếu so sánh thốn mạch với xích mạch, th́ âm mạch sau bộ quan lại thấy mạch huyền, huyền là âm huyền, là âm khí thái quá. Thế là, âm tà (thừa cơ) lấn vào dương vị, tức là hung tí nên tâm thống.
Từ câu“Sở dĩ nhiên giả” trở xuống, là chú thích của tác giả, giải thích hội chứng này ám chỉ dương khí ở thượng tiêu đă hư tổn cực độ, mà đă hư th́ căn bản không thể thắng tà, tuy kết cục là hung tí tâm thống (ngực tê liệt đau tim), với mạch huyền trong âm, là hàn tà trong âm thừa cơ thượng tiêu hư tổn mà thành tí thống (tê đau), như vậy hư tổn chính là nguyên nhân của bệnh, mà mạch huyền lại là h́nh tượng của khách tà (ở chung nhưng không phù hợp).
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Mạch thái quá th́ bệnh, mạch bất cập cũng là bệnh, v́ thế nên dựa theo mạch thái quá bất cập để xem xét bệnh. Dương vi, là thốn khẩu mạch vi, dương vị đắc âm mạch là dương bất cập, cũng là thượng tiêu dương hư; Âm huyền, là mạch huyền ở bộ xích, âm vị đắc âm mạch là âm thái quá, là âm thực ở hạ tiêu. Phàm âm tà thực, đều có thể xâm phạm dương hư ở ngực, v́ thế nên thành bệnh hung tí tâm thống, bệnh hung tí nhẹ th́ tức ngực, trường hợp nặng th́ đau ngực (hung thống).
2.平人,无寒热,短气不足以息者,实也。
2/ B́nh nhân vô hàn nhiệt, đoản khí bất túc dĩ tức giả, thực dă.
【Từ giải】
B́nh nhân: Người b́nh thường không bị bệnh, ám chỉ không so sánh với hung dương của đoạn văn trước.
Vô hàn nhiệt: Là không có biểu chứng
【Giải thích】
Bài viết này là tiếp nối của bài viết trước, nhưng không do nguyên nhân hư tổn mà bị bệnh, mà chỉ ra hội chứng của thực tà, được tŕnh bày so sánh với điều văn bên trên (điều 1) “B́nh nhân”không cảm thụ ngoại tà, cũng không nóng lạnh, đột nhiên thở gấp, hô hấp khó khăn, thường thuộc thực chứng. Chứng này thường do đàm ẩm thấp trọc cản trở trong ngực, khí cơ thăng giáng không thuận lợi, nên ngực và hoành cách bế tắc khí đoản, không đủ để thở, điều này khác với chứng hung tí ở điều trên v́ đó là chứng đoản khí của bản hư tiêu thực.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》B́nh nhân, là người không bệnh tật. Không hàn nhiệt, không có bệnh tà mới. Mà khó thở, chính là thực chứng rất mạnh của khí bên trong, hoặc là đàm hoặc là thực phẩm hoặc là ẩm, gây trở ngại thăng giáng của khí mà như thế, khó thở có thể do tố chất hư nhược và bệnh lâu ngày, cũng có thể do bệnh mới gây tổn hại mạnh mà thành đoản khí. Cả hai đều không th́ thuộc chứng lư thực không c̣n nghi ngờ. Đó cũng chính là phép thẩm nhân sát bệnh (xem xét nguyên nhân để t́m ra bệnh)
3.胸痹之病,喘息咳唾,胸背痛,短气,寸口脉沉而迟,关上小紧数, 栝楼薤白白酒汤主之。
3/ Hung tí chi bệnh, suyễn tức khái thoá, hung bối thống, đoản khí, thốn khẩu mạch trầm nhi tŕ, quan thượng tiểu khẩn sác, Qua lâu giới bạch bạch tửu thang chủ chi.
Phương【Qua lâu giới bạch bạch tửu thang】
Qua lâu thực 1 quả, Giới bạch ½ cân Bạch tửu 7 thăng
3 vị thuốc trên sắc c̣n 2 thăng , phân 2 lần uống ấm.
【Từ giải】
Bạch tửu: Có tên là thanh tửu, c̣n gọi là mễ tửu (rượu gạo)
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận hội chứng và điều trị bệnh hung tí (đau thắt ngực). Lồng ngực và lưng ở trên, hiện tại dương ở ngực không phấn chấn, âm hàn khổn uất ở trong lư, nên âm đến tranh với dương, mà thở hổn hển, ho nhổ, hô hấp không liền lạc nên đoản khí; Dương ở ngực không phấn chấn, hàn tà nghẽn tắc ở vị trí trước và sau của âm dương, khiến ngực lưng bị đau, qua thẩm xét mạch kỹ hơn, th́ mạch dương ở thốn khẩu trầm mà tŕ là mạch dương vi như đă nói ở trên, âm mạch ở quan thượng (bộ quan) tiểu khẩn sác, có ư là âm huyền như đă đề cập, do xích bộ tràn vào quan bộ, là âm xâm phạm dương vị.
Điều trị dùng Qua lâu giới bạch bạch tửu thang có tác dụng thông dương tán hàn, trừ đàm hạ khí. Trong phương có vị Qua lâu khai tán đàm kết trong ngực, thông hành ứ trệ của kinh lạc huyết mạch, vị Giới bạch cay ấm thông dương, tán kết hoá đàm, hành khí giảm đau; Bạch tửu khinh dương (nhẹ nhàng bay lên) ấm áp thông suốt, tiêu âm tán hàn, tải dược thượng hành (vận chuyển thuốc lên trên). Sử dụng kết hợp các vị thuốc trên, khiến dương khí trong ngực lan toả thông sướng, hàn trọc tiêu tán, chứng hung tí (đau lưng ngực) tự lành.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Thốn khẩu mạch trầm nhi tŕ, mạch trầm là khí trệ, mạch tŕ là nội tạng hàn, chủ thượng tiêu tạng hàn khí trệ. Quan thượng tiểu khẩn mà tật, mạch tiểu là dương hư, khẩn tật là lạnh và đau, chính là chủ về trung tiêu khí cấp lạnh và đau, ngực và lưng là cung thành của tâm và phế, khi dương khí hư, chư tà âm hàn được thế xâm phạm, khiến khí ở ngực lưng, tê liệt không thông, bệnh nhẹ th́ đầy trướng bệnh nặng th́ đau, tất nhiên cũng sẽ có các chứng trạng như suyễn, ho khạc, đoản khí. Chủ trị bệnh này dùng thang Qua lâu giới bạch bạch tửu, với vị cay để khai mở hung tí, dùng ấm áp để vận hành dương khí.
【Bệnh án】
Họ Chu x x, nam, 25t, xă viên, ngày 21/8/1974, phát sốt rét, ngực bên phải đau kịch liệt, ho, đến khám bệnh. Kiểm tra: Thân nhiệt 38.5 °C , Mạch 101 nhịp/phút, huyết áp 120/84 mmHg, lồng ngực phải nhô ra, âm thanh hô hấp, ngữ âm dưới xương sườn thứ hai đều biến mất, tim, khí quản, trung thất lệch sang trái. Thử nghiệm ngực bên phải, lấy ra 50 ml chất lỏng màu vàng nhạt gửi đi kiểm tra và cho thấy phản ứng Wright dương tính. Được chẩn đoán là viêm màng phổi tiết dịch, bệnh nhân được điều trị bằng thang Qua lâu giới bạch bạch tửu: 50 gram Qua lâu thực và 20 gram Giới bạchi, sắc trong nước rồi thêm một cốc nhỏ rượu trắng (60°), uống một lần vào buổi sáng và buổi tối, uống 10 thang th́ khỏi bệnh. Không có bất thường nào được t́m thấy khi khám lại một tháng sau đó.
胸痹,不得卧,心痛彻背者,栝楼薤白半夏汤主之。
4/ Hung tí, bất đắc ngoạ, tâm hung triệt bối giả, Qua lâu giới bạch Bán hạ thang chủ chi.
Qua lâu thực 1 quả, giă Giới bạch 3 lạng Bán hạ ½ cân Bạch tửu 1 đấu
4 vị thuốc trên, nấu chung c̣n lại 4 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần.
【Từ giải】
Bất dắc ngoạ: Có hai ư: Không thể nằm ngửa hoặc không thể nằm.
Tâm thống triệt bối: Tức là đau ngực ở vùng tim thông sang sau lưng
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận về hội chứng và điều trị chứng hung tí do đàm trọc bế tắc. Hung tí gồm các chứng trạng chủ yếu như ho suyễn nhiều đàm dăi, ngực lưng bị đau, hơi thở đứt quăng. V́ dương ở ngực không phấn chấn, hàn ẩm đ́nh trệ, khí cơ trong phế không thông sướng nên phát ho suyễn khạc đàm dăi đến nỗi không thể nằm ngửa. Hàn trọc gây trở ngại khí cơ, nên đau từ tim xuyên sang lưng. Điều trị dùng thang Qua lâu Giới bạch Bán hạ để thông dương tán kết, trục ẩm giáng nghịch. Trong phương với Qua lâu giới bạch bạch tửu thang, thông dương khí, tán đàm kết để trừ chứng hung tí; Gia Bán hạ trục ẩm giáng nghịch, cũng có thể thông âm dương, khiến bệnh nhân nằm được để ngủ.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Chứng hung tí đau lưng ngực ở điều trên th́ bệnh nhân c̣n có thể nằm, với mức độ đau nhẹ và khí không nghịch lên. Ở điều văn này bệnh nhân đau từ tim xuyên sang lưng và không nằm được, chính là do đau nhiều và kèm theo khí nghịch, v́ thế phải dùng phương thang ở điều văn trước, lại gia vị Bán hạ để giáng nghịch.
【Bệnh án】
Họ Lư, nữ, 57t, cán bộ, Bệnh mạch vành tâm giảo thống (đau thắt ngực) đă 5~6 năm, đau vùng tâm tiền khu (trước tim) mỗi ngày 2~3 lần, kèm theo ngực khó chịu thở đứt quăng, trong tim có cảm giác bế tắc, mỏi mệt, mạch huyền tế, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, bên cạnh có dấu răng. Bệnh hung tí ở đây, chính là tâm dương hư, vị bất hoà dẫn đến khí cơ không thông sướng, huyết mạch tắc nghẽn, nên dùng phép thông dương tuyên tí, cùng điều trị tâm và vị, phỏng theo Qua lâu giới bạch Bán hạ thang hợp Quất chỉ khương thang gia giảm.
Xử phương: Qua lâu 30g Giới bạch 12g Bán hạ 15g Chỉ xác 10g Quất b́ 15g Sinh khương 6g Đảng sâm 30g Hoàng kỳ sống 30g Quế chi 12g Hương phụ 12g, uống thang trên hơn 2 tháng, cơn đau ngực thỉnh thoảng xuất hiện, tức ngực khó thở giảm nhẹ, mạch huyền tế, rêu lưỡi mỏng.
胸痹,心中痞气,气结在胸,胸满,胁下逆抢心,枳实薤白桂枝汤主之, 人参汤亦主之。
5/ Hung tí, tâm trung bĩ khí, khí kết tại hung, hung măn, hiếp hạ nghịch thương tâm, Chỉ thực giới bạch quế chi thang chủ chi, nhân sâm thang diệc chủ chi.
Phương【Chỉ thực giới bạch quế chi thang】
Chỉ thực 4 quả Hậu phác 4 lạng Giới bạch 1/ cân Quế chi 1 lạng Qua lâu thực 1 quả, giă nát 5 vị, dùng 5 thăng nước, đầu tiên nấu Chỉ thực, Hậu phác c̣n 2 thăng, bỏ bă cho hết thuốc vào đun sôi vài dạo, phân thành 3 lần uống ấm.
Phương thang Nhân sâm
Nhân sâm Cam thảo Can khương Bạch truật mỗi vị 3 lạng
4 vị thuốc trên, dùng 8 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần.
【Từ giải】
Thương tâm (抢心) Đột nhiên, ư là cướp đoạt
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày bệnh thế kịch liệt của chứng hung tí, tức là hung tí gia thêm trong tâm bĩ tắc, khách khí lưu kết không hết. Ngoại trừ hội chứng hung tí, lại thấy tức ngực, khí ở dưới cạnh sườn lại nghịch lên cướp đoạt ở tâm, chứng này từ ngực, tim lan xuống hạ sườn, là lưu (lại), là kết tụ, là nghịch, là cướp đoạt, phản ảnh âm tà hoành hành không uư kỵ, v́ thế dùng thang Chỉ thực giới bạch quế chi để thông dương tán kết, giáng nghịch b́nh xung. Trong phương có Qua lâu, Giới bạch thông dương tán kết, trừ đàm hạ khí, ôn thông huyết mạch, Chỉ thực, Hậu phác điều trị bĩ đầy, để giáng khí nghịch; Quế chi thông dương hạ khí, khai mở nghẽn tắc của hàn, để hạ giáng nghịch khí. Các vị thuốc phối hợp, khiến dương thông kết tán và các chứng tự khỏi; Phương này được thiết lập để diệt trừ tà khí. Nếu do chính khí không thể chống đỡ, và trung tiêu hư hàn rất nặng, đại khí không chuyển, âm hàn bế tắc, nên thấy dưới tim bĩ đầy, mệt mỏi vô lực, tiếng nói thấp nhỏ, tứ chi lạnh lẽo, mạch trầm tế. Điều trị dùng thang Nhân sâm, bổ trung ôn dương để trị bệnh tà hàn thấp. Trong phương có Nhân sâm, Bạch truật, Cam thảo ngọt ấm bổ khí kiện tỳ, Can khương cay ấm, ấm áp trung tiêu khứ hàn tà, tán bĩ trừ kết. Phối hợp các vị thuốc có tác dụng khiến dương khí ở trung tiêu khai phát, giải tán khí bế tắc, tiêu trừ tức ngực, chứng hung tí có thể khỏi, và đó chính phép tắc nhân tắc dụng (Là dùng phép bồi bổ để điều trị chứng bế tắc).
【Tuyển chú】(Chú giải tuyển chọn)
《Y Tông Kim Giám》Trong tim cũng là dưới tim. Bệnh hung tí, là dưới tim có khí bĩ tắc, bực bội không thông cũng là hư. Nếu ở dưới tim có khí kết ở ngực, ngực đầy trướng ở hạ sườn, khí nghịch lên tâm th́ là thực chứng. Thực chứng chủ yếu dùng Chỉ thực giới bạch quế chi thang, bội dụng Chỉ, Phác, chính là chủ yếu để phá khí giáng nghịch. Với hư chứng th́ dùng thang Nhân sâm (là thang Lư trung), chủ yếu là để ôn trung bổ khí. Do đó có thể thấy chứng đau có phép bổ, vả là ư nghĩa của phép tắc nhân tắc dụng.
【Bệnh án】
Họ Trương x x, nam, 40t, công nhân. Năm 1975 bệnh nhân bị tai biến nhẹ do huyết thuyên bán thân bất toại, năm 1979 khi đang châm cứu tại bệnh viện, đột nhiên xuất hiện ngực đau kịch liệt, khó thở, sau đó được đưa vào bệnh viện Tây an cấp cứu và được chẩn đoán là “Tâm cơ cánh tắc” (心肌梗塞) Nhồi máu cơ tim, nằm viện hơn 4 tháng, bệnh biến chuyển tốt và được xuất viện. Sau khi xuất viện mỗi khi trời sắp sáng th́ đều xuất hiện tâm giảo thống (đau thắt ngực) phải ngồi để thở và ngậm Tiêu toan cam du phiến. Tháng 10 năm 1979, tôi được mời đến bệnh viện để chẩn đoán và điều trị, mạch của ông trầm sáp vô lực, mạch có lúc ngừng, thân thể và chân tay lạnh, mỗi sáng đều đau ở vị quản lan sang ngực và sườn bên trái, luôn khó thở và sợ hăi,l chính là dương ở trung tiêu không vận hành, khí hư huyết ứ gây ra, người viết cho uống thang Nhân sâm gia vị: Hồng li sâm 10g Bạch truật 10g, Xuyên Hồng hoa 10g Cam thảo 5g Can khương 10g Đào nhân 10g Đan sâm 10g Giáng hương 10g, Huyền hồ 10g Xuyên luyện tử 10g Chỉ thực 10g sau khi uống 2 thang, cơn đau ngực lúc gà gáy không thấy xuất hiện, dùng phương này gia giảm uống trong hơn 2 tháng, nửa năm gần đây rất ít khi xuất hiện cơn đau thắt ngực.
胸痹,胸中气塞、短气,茯苓杏仁甘草汤主之,橘姜汤主之。
Hung tí, hung trung khí tắc, đoản khí, Phục linh Hạnh nhân Cam thảo thang chủ chi, Quất khương thang chủ chi.
Phương【Phục linh Hạnh nhân Cam thảo thang】
Phục linh 3 lạng Hạnh nhân 50 hạt Cam thảo 1 lạng
3 vị trên, dùng 1 đấu nước, nấu c̣n 5 thang, uống ấm 1 thăng, ngày uống 3 lần, không bớt bệnh tiếp tục uống.
Phương【Quất b́ Chỉ thực Sinh khương thang】
Quất b́ 1 cân Chỉ thực 3 lạng Sinh khương ½ cân
3 vị trên, dùng 5 thăng nước, nấu c̣n 2 thăng, phân hai lần uống ấm. 《Trửu hậu》、《Thiên kim》viết: Điều trị hung tí, trong ngực phiền muộn như đầy, nghẹn tắc như ngứa, trong họng khô rít nhổ bọt.
【Giải thích】
Điều này tiếp theo điều trên tŕnh bày chứng hung tí có bệnh thế hoà hoăn hơn, mà hội chứng có cảm giác khí trong ngực bị tắc nghẽn, tóm lại khí ra vào cũng cảm thấy không thuận lợi và khó thở. Đó là thuỷ khí đ́nh trệ gây bệnh, nếu thuỷ nhiều hơn khí th́ sẽ đoản khí, điều trị dùng thang Phục linh Hạnh nhân Cam thảo, khiến thuỷ lợi th́ khí sẽ thuận. Nếu khí thịnh hơn thuỷ th́ khí tắc nghẽn trong ngực, có thể dùng thang Quất chỉ Sinh khương, khiến cho khí khai mở th́ chứng tí có thể thông mà bệnh có thể lành. Bệnh hung tí, có sự khác biệt là thuỷ và khí, điều này không thể không biết.
Thang Quất chỉ khương, ôn thông giáng nghịch, tán thủy vận hành khí. Trong phương có Quất b́ điều chỉnh khí cơ của tỳ và phế, Chỉ thực tiêu bĩ hạ khí, Sinh khương tân ôn (cay ấm) tán thuỷ, giáng nghịch hoà vị. Kết hợp các vị thuốc, khiến tỳ vị thăng giáng thoả đáng, tí tán khí hành, khí tắc nghẽn có thể thông suốt, các chứng bĩ đầy, đoản khí có thể hết.
Thang Phục linh Hạnh nhân Cam thảo, có công dụng tuyên phế hoá ẩm. Trong phương có Phục linh thấm thấp lợi thuỷ, điều tiết khai thông phế khí; Hạnh nhân lợi phế khí để khứ đàm thấp; Cam thảo hoà trung phù trợ chính khí, ba vị thuốc hợp lại có tác dụng khứ thuỷ ẩm và lợi phế khí, trừ khứ các bệnh chứng.
Hội chứng của thang Quất chỉ khương có bệnh biến tại vị (dạ dày), thiên về thực phẩm đ́nh trệ và khí uất, hội chứng của thang Phục linh Hạnh nhân Cam thảo có bệnh biến tại phế, thiên về thuỷ ẩm khí tắc nghẽn.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》Chứng hung tí là trong ngực đau cấp bách, là chứng đau ngực nặng; Khí tắc nghẽn trong ngực là chứng hung tí nhẹ. Ngực gọi là khí hải (biển khí), có khoảng trống, nếu dương tà xâm phạm th́ hoá hoả, tính của hoả (thăng) khiến khí khai mở mà không bị bệnh. Nếu âm tà xâm phạm th́ sẽ hoá thuỷ, tính của thuỷ (hạ giáng) khiến khí đóng lại, v́ thế trong ngực khí tắc nghẽn đoản khí, không đủ để thở, và là chứng hung tí. Thuỷ nhiều hơn khí, th́ hơi thở vội vă, chủ trị với thang Phục linh Hạnh nhân Cam thảo để lợi thuỷ, thuỷ lợi th́ khí thuận. Khí nhiều hơn thuỷ th́ bế tắc, chủ trị với thang Quất b́ chỉ thực sinh khương, để khai mở khí, khí khai mở th́ chứng tí thông.
胸痹缓急者,薏苡附子散主之。
7/ Hung tí hoăn cấp giả, Ư rĩ phụ tử tán chủ chi.
Phương【Ư rĩ Phụ tử tán】
Ư rĩ nhân 15 lạng Đại phụ tử 1 củ nướng
2 vị trên, tán bột, mỗi lần uống 1 th́a, ngày 3 lần
【Từ giải】
Hoăn cấp (缓急): Là chỉ về trị pháp cần hoăn giải (thuyên giảm) đau đớn cấp kịch (đau kịch liệt) của hung tí.
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận trị pháp chứng đau cấp kịch (đau kịch liệt nhanh chóng) của chứng hung tí. V́ dương khí suy vi, âm hàn đàm thấp tắc nghẽn rất nhiều, dương khí bất thân (不伸) không giăn, duỗi hay là thăng phát, phát triển ??? dương của ngực tê liệt bế tắc, v́ thế trong ngực đau kịch liệt; Dương khí không thông đạt ra tứ chi nên chân tay quyết lănh (tay chân lạnh đến khuỷu, gối).
Điều trị dùng Ư rĩ phụ tử tán, ôn dương hoá thấp, trị tê liệt để hoăn giải (giảm nhẹ) cơn đau kịch liệt. Trong phương với Ư rĩ có tác dụng thông lạc lợi thấp, khai kết hoăn cấp; Phụ tử nướng (bào) ôn dương thông lạc để tán âm hàn. Hai loại thuốc tương tu (có tác dụng tương tự, tăng cường tác dụng cho nhau) ôn dương khai tí (khai thông tê liệt), dương khí thân (伸)th́ đau thuyên giảm. Do t́nh trạng bệnh cấp bách, v́ vậy mà dùng thuốc tán, để sức thuốc nhanh chóng thu được hiệu quả. Phương dược này có tác dụng hoăn giải mạch máu co thắt, phù trợ dương và ức chế âm.
【Tuyển chú】
《Kim quỹ Ngọc Hàm Kinh nhị chú》: “Hung tí hoăn cấp, tê liệt cũng là hội chứng cấp bách. Hàn ẩm kết tụ tâm cách (tâm, hoành cách), khiến dương khí không thông đạt (thông ra ngoài), V́ sao mà nguy cấp như vậy? Dùng vị Ư rĩ trục thuỷ là quân dược, Phụ tử cay nóng là tá dược, khu trừ quét sạch hàn tà kết tụ, và hội chứng hàn ẩm kết tụ không thích hợp để sử dụng vị Ô đầu.
心中痞,诸逆心悬痛,桂枝生姜枳实汤主之。
8/ Tâm trung bĩ, chư nghịch tâm huyền thống, Quế chi Sinh khương Chỉ thực thang chủ chi.
Phương【Quế chi Sinh khương Chỉ thực thang】
Quế chi Sinh khương đều 3 lạng Chỉ thực 5 quả
3 vị thuốc trên, dùng 6 thăng nước, nấu c̣n 3 thăng, phân 3 lần uống ấm.
【Từ giải】
Tâm trung (心中): Là vùng vị quảng (khoang dạ dày).
Chư nghịch (诸逆):là thuỷ ẩm hàn tà trong dạ dày trào ngược.
Tâm huyền thống (心悬痛): Như có vật treo lơ lửng, dao động và đau, lại đau tim ở trên và không xuống, v́ thế gọi là huyền (treo) thống.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị bệnh tâm thống do hàn ẩm khí nghịch gây ra. V́ dương khí không đầy đủ, hàn tà đ́nh lưu ở vị gây bế tắc uất trệ, khí cơ không thông sướng, nên tâm hạ (vị) bế tắc, tà âm hàn trào ngược lên, khiên tim đau như treo lên lơ lửng mà không xuống. Điều trị dùng thang Quế chi Sinh khương Chỉ thực, ôn dương tán hàn, hoá ẩm giáng nghịch. Trong phương thang có Quế chi, Sinh khương thông dương tán hàn, ấm áp thuỷ ẩm để trị chứng trào ngược, vị Chỉ thực khai kết hạ khí, có thể hạ giáng xung nghịch (trào ngược). 3 vị thuốc tương sứ (hỗ trợ nhau), cùng ôn thông dương khí, hoá ẩm tán bĩ và giáng nghịch.
Điều này và điều 5 đều gặp chứng tâm trung bĩ khí thượng nghịch. Điều 5 chính là chứng hung tí trong tim bĩ tắc, khí thượng nghịch. V́ thế khi điều trị dùng Qua lâu Giới bạch khai mở lồng ngực tê liệt, dùng Quế chi, Chỉ thực, Hậu phác để thông dương, tán bĩ và hạ khí.;, ở điều văn này chứng bĩ tắc và đau ở tim chỉ đơn thuần là do hàn ẩm, nên không dùng Qua lâu Giới bạch, mà dùng Quế chi, Chỉ thực, Sinh khương để ôn dương hoá ẩm, giáng xung hạ khí.
Điều văn này và điều văn số 6 Quất chỉ khương thang chỉ có 1 vị khác biệt, điều văn só 6 Quất b́, Sinh khương, Chỉ thực chuyên về lư khí (điều chỉnh khí); Điều này với vị Quế chi tăng cường lực ôn dương giáng nghịch. Có thể thấy trong trường hợp trước là khí nghẽn tắc trong ngực khá nặng, c̣n ở điều văn này chủ yếu tŕnh bày chứng đau tim do hàn ẩm thượng nghịch.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển》: Chư nghịch là nói đến đàm ẩm, khách khí. Tâm huyền (treo) thống, như vật treo lơ lửng mà đau, khí nghịch cũng khiến ra như vậy, Quế chi, Chỉ thực, Sinh khương vị cay để tán nghịch, đắng để tiết bĩ, ấm để khứ hàn.
心痛彻背,背痛彻心,乌头赤石脂丸主之。
9/ Tâm thống triệt bối, bối thống triệt tâm, Ô đầu Xích thạch chi hoàn chủ chi.
【Xích Thạch chi hoàn】
Thục tiêu 1 lạng nhất pháp 2 phân Ô đầu 1 phân Phụ tử ½ lạng, nướng Can khương 1 lạng Xích thạch chi 1 lạng .
5 vị trên, tán bột, mật hoàn như ngô đồng tử đại, uống 1 hoàn trước khi ăn, ngày 3 lần, không biến chuyển, tăng liều nhẹ.
【Giải thích】
Điều văn này tŕnh bày hội chứng và điều trị chứng tâm thống do âm hàn kết tụ lâu ngày. Do dương khí suy vi, âm hàn kết tụ lâu ngày, kinh mạch ngưng trệ không thông, đau từ tâm sang lưng vàđau từ lưng sang ngực, đau không ngừng nghỉ, tay chân quyết lănh, mạch trầm khẩn. Điều trị dùng Ô đầu Xích thạch chi hoàn, có tác dụng ôn dương hoá âm, khai kết giảm đau. Trong phương có Ô đầu, Phụ tử, Can khương, Thục tiêu đại tân đại nhiệt (rất cay rất nóng), để ôn dương tán hàn, khai kết trừ tê liệt, thông kinh mạch để giảm đau; Xích thạch chi thu liễm tâm dương, an đinh tâm khí.
【Tuyển chú】
《Y Tông Kim Giám》: Lư Sam viết: Đau trong ngực mà
Thấu sang lưng, là ở bên trong mà thông đạt ra ngoài, đau bên ngoài lưng mà thấu vào ngực, là từ bên ngoài nhập vào trong. V́ thế đă dùng tính ấm áp của Phụ tử cùng tính nhanh nhẹn của Ô đầu, tá dược là Can khương để vận hành dương khí, để đại tán hàn, dùng Thục tiêu hạ khí để đại khai uất trệ, lại e đại tán đại khai quá mức, nên dùng Xích thạch chi nhập tâm để thu liễm dương khí.
【Bệnh án】
Họ Hạng xx , nữ 47t. Đau ở vị quản, mỗi khi gặp hàn lănh th́ phát đau, đau lan sang lưng, liên miên không dứt, nặng th́ nôn chua dàn dụa nước trong miệng, phân lỏng, phải ôn cứu ở trung quản mới giảm nhẹ, mạch tŕ, rêu lưỡi trắng, dùng thuốc hoàn: Chế xuyên ô 9g, Xuyên tiêu 9g, chế Phụ tử 9g Can khương 12g Xích thạch chi 30g Bạch truật sao 15g Đảng sâm 15g, Cam thảo chích 9g, Cao Lương khương 9g Ngoă lăng tử 30g.
Tất cả tán bột, hoà đều nghiền thành bột mịn, cất giữ. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2g, uống với nước ấm .
Án: Trường hợp này đau ở vị quản thấu sang lưng, liên miên không ngừng, tương tự với 《Kim Quỹ》 “Tâm thống triệt bối, bối thống triệt tâm” Nhưng nguyên nhân& cơ chế bệnh là do tỳ vị dương hư, hàn ngưng khí trệ gây ra bệnh, v́ thế dùng phương Ô đầu Xích thạch chi hoàn của 《Kim Quỹ》gia Cao lương khương để ôn trung tán hàn giảm đau, thêm Nhân sâm, Truật, Cam thảo để hoà trung hoăn cấp, kiện tỳ chỉ tiết tả, Xích thạch chi cũng có tác dụng trị tả và tốt cho đường ruột; Ngoă lăng tử có tác dụng trị toan (chua) rơ rệt. Phương dược làm thành thuốc hoàn có ưu thế hơn thuốc sắc. Tái khám có kết quả, sau khi uống thuốc đau dạ dày giảm nhẹ rơ rệt, ít phát tác, phân thành khuôn, sau đó tiếp 1 liều thuốc nữa th́ khỏi bệnh.
【Cửu thống hoàn】Trị 9 loại đau tim (Cửu chủng tâm thống)
Phụ tử 3 lạng, nướng Lang nha sống 1 lạng , nướng thơm Ba đậu 1 lạng, khứ vỏ ruột, nướng nghiền như chi cao Nhân sâm Can Khương Ngô thù đều 1 lạng.
6 vị thuốc trên, tán bột, dùng mật luyện hoàn như hạt ngô đồng, uống với rượu, người khoẻ uống 3 hoàn, ngày 3 lần, người yếu uống 2 hoàn.
Kiêm trị thốt trúng (đột quỵ) bụng trướng đau, cấm khẩu, trị chứng lạnh tích tụ lâu năm, chảy vào tim và ngực, lạnh hoà lẫn khí của tâm phế, bệnh về máu do lật xe ngă ngựa đều có thể điều trị. Phép cấm kỵ như thường lệ.
【Từ giải】
Ngao (熬): Cũng như sao (炒)
【Giải thích】
Điều văn này thảo luận về trị pháp của 9 loại đau tim, tức là đau tim do trùng (虫), do chú (注), do phong (风), do quư (悸), do thực (食), do ẩm (饮), do lănh (冷), do nhiệt (热), do khứ lai (去来). Do các nguyên nhân như tích tụ, đàm ẩm, kết huyết, trùng chú, hàn lănh, trúng ác, tổn thương do té ngă đánh đập, khiến dương khí không đầy đủ, ứ huyết ẩm trọc lưu lại lâu dài, kết tụ lâu năm trong ngực, nghẹt tắc không thông gây đau ở tim ngực.
Điều trị dùng Cửu thống hoàn, có tác dụng ôn dương tán hàn, khai kết giảm đau. Trong phương dược có vị Phụ tử, Can khương, Ngô thù du ôn trung tán hàn, tiêu tán kết tụ lâu năm trong ngực, vị Lang độc táo thấp sát trùng, trừ khứ đàm ẩm, Ba đậu trục xuất tích tụ, loại bỏ mạnh mẽ và nhanh chóng huyết ngưng kết; Nhân sâm bổ trung ích khí. Phối hợp các vị thuốc, khiến hàn kết tiêu tán, dương khí được mở rộng và ứ kết khứ, khiến mọi chứng ở ngực và tim được tự trừ.
Cửu thống hoàn là tễ dược ôn nhiệt, có thể ôn tán âm hàn tà khí, v́ thế có thể kiêm trị thốt trúng âm hàn bệnh tà gây ra chứng bụng đau trướng, cẩm khẩu; Hoặc kiêm trị âm hàn trọc khí, kết tụ lâu ngày ở bên trong, trọc khí nghịch lên khiến tim ngực đau, do khí lạnh xông lên. Phương này lại có thể ôn tán ứ huyết, giảm đau, v́ thế có thể điều trị các chứng ứ huyết gây đau do tai nạn, như ngă xe ngă ngựa.
【Tuyển chú】
《Kim Quỹ Yếu Lược Trực Giải》: Chín loại đau, tuy phân thành 9 loại nhưng cũng không ngoài các nguyên nhân như tích tụ, nhiệt ẩm, kết huyết, trùng chú, hàn lănh tạo thành. Phụ tử, Ba đậu tán hàn lănh mà phá kiên tích, Lang nha , Thù du sát trùng chú mà trừ đàm ẩm, Can khương, Nhân sâm điều chỉnh trung khí mà hoà vị. Cùng trị 9 loại đau tim, vị Ba đậu trừ tà sát quỷ, v́ thế trị chứng cảm thụ uế độc bụng trướng đau, cấm khẩu. Người bị hàn khí tích tụ nhiều năm, tâm hung thống (đau thắt ngực), khí lạnh xung lên, đều nên dùng vị cay nóng (tân nhiệt), vị cay nóng có thể vận hành huyết dịch hoặc phá huyết ứ, Huyết ngưng trệ tích ứ do lật xe ngă ngựa cũng đều thích hợp.
Kết luận
Thiên này thảo luận về nguyên nhân của chứng hung tí tâm thống (Cơn đau thắt ngực), chính là do dương vi âm thịnh (dương ít âm nhiều), dương khí tê liệt nghẽn tắc gây ra chứng hung tí tâm thống (cơn đau thắt ngực). V́ thế, trên phương diện điều trị, đều dùng nguyên tắc cơ bản là ôn thông dương khí, khu tán hàn tà, có thể dùng Qua lâu giới bạch bạch tửu thang có tác dụng thông dương tán kết, trừ đàm hạ khí; Nếu đàm ẩm khá nặng, kèm theo không thể nằm ngủ ngon, đau ngực thấu sang lưng th́ dùng Qua lâu Giới bạch Bán hạ thang có tác dụng thông dương tán kết, trừ ẩm giáng nghịch, kèm theo dưới tim có khí bế tắc, tức ngực, thực chứng khí kết ở hạ sườn nghịch lên tâm, dùng thang Chỉ thực Giới bạch Quế chi để thông dương tán kết, giáng nghịch b́nh xung; Dương hư ở trung tiêu mà hàn thấp không hoá th́ dùng thang Nhân sâm, bổ trung ôn dương, vận hoá thuỷ thấp; Nếu có kèm theo hàn trọc uất trệ, khí tắc nghẽn, đoản khí (khó thở) bệnh tại tạng tỳ, dùng thang Quất chỉ khương, ôn thông lư (điều chỉnh) tỳ, tán thuỷ hành khí, bệnh tại phế mà khó thở, dùng thang Phục linh Hạnh nhân Cam thảo để tuyên phế hoá ẩm; Nếu đau ngực kịch liệt cấp bách, th́ dùng Ư rĩ Phụ tử tán, ôn dương hoá thấp, khai tí hoăn thống (giảm đau). Đau tim kèm theo dạ dày có hàn ẩm, trong tim bĩ tắc, nghịch lên thành chứng tâm huyền thống (悬痛), dùng thang Quế chi Sinh khương Chỉ thực để ôn dương tán hàn, hoá ẩm giáng nghịch; Nếu âm hàn kết tụ lâu năm, đau từ ngực thấu sang lưng, đau từ lưng thấu sang ngực, dùng Ô đầu Xích thạch chi hoàn để ôn dương hoá âm, củng cố dương và bổ sung chính khí th́ sẽ khiến bệnh tà không thể ở lại; Nếu có nhiều loại hàn kết tụ gây đau ngực, th́ có thể dùng Cửu thống hoàn để ôn dương tán hàn, khai kết giảm đau.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch |  | |
<< Trang trước 1 2 3 Trang kế >>
<< Trả Lời >>
|